Từ tháo gỡ khó khăn nguồn vốn…
Hiện nay, nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm bao gồm nguồn vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm (ngân sách Trung ương), nguồn vốn do Ngân hàng chính sách xã hội huy động và nguồn địa phương uỷ thác qua Ngân hàng chính sách xã hội.
Tuy nhiên, trong Luật Việc làm năm 2013 chỉ có các quy định về Quỹ quốc gia về việc làm. Trong khi đó, nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm chủ yếu đến từ 2 nguồn.
Thứ nhất, nguồn huy động của Ngân hàng chính sách xã hội, chiếm tỷ trọng lớn nhất, có xu hướng ngày càng tăng được thông qua cơ chế cấp bù chênh lệch lãi suất, nhưng mới được quy định ở văn bản dưới Luật.
Thứ hai, nguồn ủy thác của địa phương qua Ngân hàng chính sách xã hội chưa có quy định cụ thể nên nhiều địa phương gặp khó khăn khi ủy thác qua ngân hàng.

Theo báo cáo của Ngân hàng chính sách xã hội, tính đến tháng 7.2024, tổng dư nợ chương trình cho vay hỗ trợ việc làm đạt trên 102.217 tỷ đồng. Đây là chương trình có dư nợ lớn nhất, chiếm 29,14% tổng dư nợ trong các chương trình đang triển khai tại Ngân hàng chính sách xã hội; 63/63 tỉnh, thành phố và 100% các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương ủy thác nguồn ngân sách địa phương cho Ngân hàng chính sách xã hội tổng dư nợ khoảng 38.378 tỷ đồng, chiếm 37,5% tổng dư nợ.
Qua tổng hợp báo cáo của các địa phương và khảo sát thực tế, nguồn vốn trên mới chỉ đáp ứng 40-50% nhu cầu vay vốn của người dân, nhất là lao động ở khu vực nông thôn.
Trong khi, theo quy định tại Khoản 11, Điều 8 của Luật Ngân sách nhà nước thì “ngân sách nhà nước không hỗ trợ chi hoạt động của các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách”. Do đó, ngân sách nhà nước không hỗ trợ Quỹ quốc gia về việc làm để thực hiện cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm và thực tế từ năm 2016 đến nay, ngân sách nhà nước cũng không bổ sung vốn cho Quỹ quốc gia về việc làm. Quỹ này chỉ được bổ sung từ tiền lãi cho vay, trích 10% số tiền lãi thu được để bổ sung vào nguồn vốn của Quỹ quốc gia về việc làm. Đồng thời, quỹ không có bộ máy hoạt động và biên chế quản lý quỹ, không có quyết định thành lập, quy chế hoạt động.
Mặt khác, theo quy định tại Nghị định số 61/2015/NĐ-CP, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện chức năng “quản lý nhà nước về Quỹ quốc gia việc làm”, quỹ được giao cho Ngân hàng chính sách xã hội “quản lý và cho vay theo quy định pháp luật”. Do đó, về bản chất, Quỹ quốc gia về việc làm là một nguồn vốn của ngân sách Trung ương giao cho Ngân hàng chính sách xã hội thực hiện cho vay. Quỹ không đảm bảo các điều kiện như là một quỹ tài chính ngoài ngân sách nhà nước theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước 2015.
Bên cạnh đó, việc ủy thác nguồn ngân sách địa phương qua Ngân hàng chính sách xã hội để thực hiện chính sách tín dụng, trong đó có chính sách tín dụng việc làm cũng gặp nhiều khó khăn do cơ sở pháp lý chưa rõ, chưa tạo cơ hội huy động nhiều nguồn lực để tăng cường cho vay giải quyết việc làm, căn cứ khả năng cân đối ngân sách, địa phương có thể bố trí từ nguồn vốn đầu tư công dưới hình thức các chương trình, đề án, nguồn vốn đầu tư phát triển, chi thường xuyên …
Để khắc phục các tồn tại, hạn chế trên, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24.6.2023 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Hồ Chí Minh, Nghị quyết số 111/2024/QH15 ngày 18.1.2024 về một số cơ chế, chính sách đặc thù thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia. Trong đó, quy định Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện quyết định bố trí vốn đầu tư công, vốn đầu tư phát triển, kinh phí thường xuyên, giao Ủy ban nhân dân cùng cấp ủy thác cho Ngân hàng chính sách xã hội tại địa phương thực hiện cho vay giải quyết việc làm.
Đến tạo việc làm bền vững, giảm tỷ lệ thất nghiệp
Theo các chuyên gia, với việc sửa đổi quy định về nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm sẽ góp phần thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng đề ra tại Nghị quyết số 42-NQ/TW: “Mở rộng tín dụng chính sách xã hội nhằm hỗ trợ vốn vay tạo việc làm, sinh kế cho người dân, nhất là người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn”; Chỉ thị số 40-CT/TW: “Ưu tiên cân đối nguồn vốn ngân sách nhà nước để thực hiện các chương trình, dự án tín dụng chính sách xã hội”; Tăng cường huy động, bổ sung nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm cho Ngân hàng chính sách xã hội, từng bước đáp ứng nhu cầu vay vốn của người lao động, cơ sở sản xuất kinh doanh.

Trong khi đó, việc sửa đổi quy định về nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm, đối với Nhà nước sẽ góp phần thúc đẩy hỗ trợ, chuyển dịch việc làm theo hướng bền vững cho người lao động, nhất là lao động nông thôn, lao động không có quan hệ lao động, các đối tượng yếu thế, đặc thù, góp phần ổn định phát triển kinh tế gắn với đảm bảo an sinh xã hội. Đồng thời, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông qua việc duy trì, mở rộng, tạo việc làm cho người lao động, tăng thu nhập và thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh.
Theo tính toán của cơ quan chức năng, việc sửa đổi quy định về nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm sẽ phát sinh tăng chi phí ngân sách nhà nước trong trường hợp cấp bù lãi suất và phí quản lý cho Ngân hàng chính sách xã hội để huy động nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm.
Với giả định lãi suất cho vay như quy định hiện hành, để huy động 10.000 tỷ đồng cho vay giải quyết việc làm, ngân sách Nhà nước cần bố trí khoảng 500 tỷ đồng để cấp bù lãi suất và phí quản lý. Tuy nhiên, từ hoạt động này sẽ góp phần hỗ trợ tạo, duy trì và mở rộng việc làm cho khoảng 100.000 lao động - mức vay bình quân khoảng 50 triệu đồng/dự án.
Bên cạnh đó, việc sửa đổi quy định về nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm, đối với người sử dụng lao động là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh sẽ có cơ hội tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi để đầu tư mở rộng, phát triển sản xuất kinh doanh, tăng doanh thu và lợi nhuận.
Còn đối với người lao động, nhất là các đối tượng yếu thế, đặc thù có cơ hội tiếp cận nguồn vay vốn ưu đãi để tạo việc làm, duy trì, mở rộng việc làm và đi làm việc ở nước ngoài; ngoài các đối tượng hiện hành, một số đối tượng yếu thế được vay vốn với mức lãi suất thấp hơn.
Giải pháp sửa đổi quy định về nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm cũng sẽ phát huy vai trò, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nước về việc làm; góp phần phòng ngừa, hạn chế “tín dụng đen”. Hỗ trợ tạo việc làm theo hướng bền vững, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong quá trình phát triển kinh tế. Thông qua các giải pháp này sẽ góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, giảm gánh nặng cho nhà nước trong việc giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh.
Từ sửa đổi quy định về nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm cũng sẽ giúp người sử dụng lao động thuận lợi hơn trong việc tiếp cận với nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm, góp phần phát triển trách nhiệm xã hội của người sử dụng lao động trong việc giải quyết các vấn đề việc làm, thất nghiệp, chất lượng nguồn lao động ... Trong khi, đối với người lao động được tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi, sẽ tạo, duy trì và mở rộng việc làm cho bản thân, gia đình và xã hội, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, duy trì, ổn định, nâng cao chất lượng đời sống.
Sửa đổi quy định về nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm cũng sẽ đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật trong nước, đảm bảo phù hợp, thống nhất với các luật hiện hành. Cụ thể, Bộ luật Lao động, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Luật Doanh nghiệp nhỏ và vừa, Luật Hợp tác xã, Luật tổ chức tín dụng, Luật Ngân sách nhà nước ... phù hợp với Công ước số 122 của ILO về Chính sách việc làm mà Việt Nam đã tham gia, quy định mỗi nước thành viên, trong khả năng phù hợp với điều kiện của đất nước, quyết định, thực hiện, rà soát các biện pháp để đạt được mục tiêu chính sách (chính sách việc làm chủ động).