Xã hội hóa công tác cai nghiện: Giải pháp thiết thực trong phòng, chống ma túy
Trao đổi tại tọa đàm, các chuyên gia cho rằng, cai nghiện ma túy không chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước mà đòi hỏi sự chung tay của gia đình, tổ dân phố, đoàn thể, tổ chức xã hội và tôn giáo, tạo thành sức mạnh cộng đồng trong phòng ngừa và hỗ trợ tái hòa nhập.
Trong bối cảnh Nhà nước đang sửa đổi Luật Phòng, chống ma túy, ngày 28/8, Khoa Luật Hiến pháp và Luật Hành chính - Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tổ chức Tọa đàm “Cai nghiện ma tuý: Vai trò của các đoàn thể, tổ chức xã hội, tổ dân phố, gia đình, và tôn giáo” có ý nghĩa thiết thực.

Chuyển giao mô hình để nâng cao hiệu quả cai nghiện ma túy
Trình bày tham luận mở đầu, GS.TS Vũ Công Giao - Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tổng hợp, phân tích các mô hình điều trị rối loạn do sử dụng ma túy (SUD) có tính phổ biến trên thế giới, như: Điều trị bằng thuốc cho rối loạn do sử dụng opioid (MOUD); Can thiệp tâm lý – xã hội; Giảm hại (harm reduction) tích hợp y tế công cộng; Lồng ghép chăm sóc ban đầu, sức khoẻ tâm thần và chuyển tuyến;... Các phương pháp này dù mức độ khác nhau, đều có tác dụng trong việc làm giảm tỷ lệ tử vong và tái sử dụng ma tuý.

Tại Việt Nam, hệ thống cai nghiện ma túy đang vận hành dựa trên hai mô hình chính: Cai nghiện bắt buộc tại cơ sở công lập và Cai nghiện tự nguyện tại cộng đồng hoặc gia đình. Trong đó, cai nghiện bắt buộc (theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền) vẫn chiếm tỷ trọng lớn, phản ánh cách tiếp cận quản lý hành chính – trừng phạt.
"So với thế giới, Việt Nam còn khoảng cách đáng kể. Trong khi nhiều nước coi MOUD là chuẩn vàng, được triển khai đa dạng trong mô hình “trung tâm – vệ tinh” hoặc lồng ghép vào y tế cơ sở, thì ở Việt Nam MOUD chưa thực sự trở thành trụ cột, vẫn thiên về mô hình cai nghiện ngắn hạn, mang tính hành chính", GS.TS Vũ Công Giao chỉ rõ.

Nhận thức về giáo dục và vai trò xã hội trong phòng ngừa ma túy ở Việt Nam, PGS.TS Đặng Minh Tuấn - Trường Đại học Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội khẳng định, Luật Phòng, chống ma túy 2021 đã nhấn mạnh vai trò của gia đình, Nhà trường, đoàn thể, báo chí và cộng đồng trong tuyên truyền, giáo dục, song thực tế cho thấy công tác này vẫn còn nhiều hạn chế.
Hiện nay, các chương trình truyền thông về ma túy phần lớn mang tính hình thức, thiếu chiều sâu, chưa đủ sức thuyết phục giới trẻ – nhóm đối tượng dễ bị lôi kéo và chiếm tỷ lệ nghiện, tái nghiện cao nhất khu vực. Mạng xã hội, với nhiều luồng thông tin sai lệch, càng làm gia tăng nguy cơ. Trong khi đó, nhận thức của các lực lượng nòng cốt như gia đình, tổ chức xã hội, nhà trường vẫn chưa đồng bộ, còn mang định kiến nặng nề khi coi người nghiện là “tội phạm” thay vì “người bệnh”.
Không chỉ vậy, mô hình cai nghiện bắt buộc bộc lộ nhiều bất cập, như: Tốn kém nguồn lực; thiếu tính nhân văn; tỷ lệ tái nghiện lên tới 70–80% và thiếu hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng.

Trước thực trạng này, PGS.TS Đặng Minh Tuấn đề xuất cần hoàn thiện khung pháp lý để ràng buộc trách nhiệm và tạo cơ chế phối hợp giữa các đoàn thể, tổ chức xã hội; đổi mới giáo dục theo hướng trang bị kỹ năng sống, lồng ghép nội dung phòng chống ma túy vào chương trình học chính khóa.
Bên cạnh đó, việc phát huy vai trò xã hội đóng vai trò then chốt: Xây dựng mô hình phối hợp cộng đồng từ tổ dân phố, đoàn thể đến cơ sở tôn giáo nhằm hỗ trợ người sau cai; tham khảo kinh nghiệm từ mô hình DRIVE tại Hải Phòng và các chương trình “giảm hại” quốc tế.
Một nhiệm vụ cấp thiết khác là giảm kỳ thị và tăng cường giám sát, bằng cách ban hành cơ chế pháp lý chống phân biệt đối xử với người sử dụng hoặc điều trị ma túy, đồng thời thiết lập hệ thống chỉ số để đánh giá mức độ tham gia của cộng đồng.
Trong các cơ sở cai nghiện, cần chuyển đổi từ mô hình quản lý, cưỡng chế sang mô hình phục hồi dựa trên giáo dục, chú trọng tổ chức các chương trình kỹ năng sống, dạy nghề, tư vấn tâm lý – xã hội kết hợp hỗ trợ pháp lý và tái hòa nhập. Đây được xem là giải pháp căn cơ để giảm tái nghiện, bảo đảm quyền con người theo chuẩn mực quốc tế của UNODC và WHO.


Vai trò, niềm tin của tôn giáo trong công tác cai nghiện ma túy
Trình bày tham luận tại Tọa đàm, PGS.TS Đỗ Lan Hiền (Viện Dân tộc và Tôn giáo, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) đã phân tích ưu và nhược điểm mô hình cai nghiện của đạo Tin Lành.

Theo đánh giá của các cơ quan chức năng, mô hình này về quy trình không khác biệt với các cơ sở công lập (tiếp nhận – cắt cơn – tác động tâm lý – tái hòa nhập). Điểm nổi bật là phương pháp tiếp cận dựa trên niềm tin tôn giáo, tạo môi trường thân thiện, tự nguyện, khích lệ người nghiện tìm lại ý chí, giảm cảm giác cô lập, qua đó hạn chế nguy cơ tái nghiện.
Tuy nhiên, PGS.TS Đỗ Lan Hiền cho rằng mô hình vẫn còn những bất cập như thiếu khung pháp lý, thiếu cơ chế phối hợp với ngành y tế, chưa có nghiên cứu khoa học kiểm chứng và đội ngũ chuyên môn còn hạn chế. Trong khi đó, mạng lưới cơ sở tôn giáo phủ khắp cả nước, đặc biệt tại nông thôn, vùng dân tộc thiểu số, là lợi thế lớn để tiếp cận, hỗ trợ và theo dõi người nghiện. Việc tôn giáo tham gia hoạt động cai nghiện đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước, giảm tải cho hệ thống công lập, thể hiện cách tiếp cận nhân văn và phát huy sức mạnh đoàn kết toàn xã hội.

Mục sư Nguyễn Thế Trung - Tổng Ủy Viên Thường Trực Hội Đồng Quản Nhiệm Tổng Hội Trưởng Khu Vực 1 (Miền Bắc) - Hội Thánh Tin Lành Liên Hiệp Truyền Giáo Việt Nam chia sẻ, công tác hỗ trợ cai nghiện tôn giáo đang thực hiện có khoảng 120 cơ sở trên nhiều tỉnh thành trong cả nước. Trong khoảng 20 năm qua, hàng nghìn người đã được biến đổi nhờ các chương trình hỗ trợ cai nghiện trong các hệ phái Tin Lành, riêng 5 năm gần đây con số này ngày càng tăng. Nhiều người từng nghiện ma tuý, nay trở thành những Mục sư, giáo viên, kỹ sư, doanh nhân, và lãnh đạo NGO…
Phương pháp hỗ trợ cai nghiện ma túy dựa trên 3 trụ cột: Đức tin và tình yêu thương, tấm gương những người đã chiến thắng ma túy và sự đồng hành tin cậy giữa cộng đồng, gia đình và Hội thánh.
"Tuy vậy, việc cai nghiện trong cộng đồng tôn giáo đối diện với nhiều khó khăn như thiếu cơ sở vật chất, thiếu nguồn lực tài chính, và đặc biệt là nỗi lo về giấy phép hợp thức hóa công việc", Mục sư Nguyễn Thế Trung nói.
Để hợp tác hiệu quả giữa cai nghiện Công lập và Tư nhân, Mục sư Nguyễn Thế Trung kiến nghị, Luật pháp và chính sách cần giữ nguyên quy định trong Luật phòng chống ma tuý hiện nay, cho phép cai nghiện ma tuý tự nguyện, chỉ cần bảo đảm hoàn thành 3 giai đoạn đầu trong quy trình cai nghiện ma tuý, tạo sự linh hoạt và hiệu quả. Như thế sẽ giúp cá nhân, tổ chức, gia đình, cộng đồng tôn giáo tiếp tục tham gia cùng với Nhà nước giúp người nghiện cai nghiện.
Để nâng cao hiệu quả công tác cai nghiện, cần sớm thiết lập cơ chế trao đổi thường xuyên và khẩn cấp giữa cán bộ phụ trách phòng, chống ma túy và các cơ sở cai nghiện tư nhân; hợp tác liên ngành, đặc biệt giữa Bộ Công an và Ban Tôn giáo Chính phủ cần đi vào chiều sâu với các kênh giao tiếp, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn, bảo đảm phối hợp đồng bộ giữa công lập và tư nhân,..
Về nguồn lực, Nhà nước cần tăng cường đầu tư, đồng thời tạo điều kiện để khu vực tư nhân huy động quỹ cộng đồng, được hỗ trợ cơ sở vật chất, dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý,....
"Công tác cai nghiện không chỉ cứu một cá nhân mà còn cả gia đình, thậm chí nhiều thế hệ. Đây không chỉ là công việc nhân đạo, mà còn góp phần xây dựng một xã hội khoẻ mạnh, an toàn và nhân ái", Mục sư Nguyễn Thế Trung nhấn mạnh.