Quốc hội tiến hành chất vấn Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung 

Xem với cỡ chữ
Chiều 10.11, sau khi kết thúc chất vấn nhóm vấn đề thứ nhất, từ 14h20 phút, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, Quốc hội tiến hành chất vấn đối với Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung.
14:31

Phát biểu của Bộ trưởng Đào Ngọc Dung mở đầu phiên trả lời chất vấn

Phát biểu mở đầu phiên chất vấn và trả lời chất vấn, Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung cho biết, thời gian qua các vị đại biểu và cử tri cả nước đã gửi nhiều chất vấn, yêu cầu. Trong thẩm quyền của mình, chúng tôi đã trả lời, giải đáp và cố gắng ở mức cao nhất để tổ chức thực hiện có hiệu quả công việc, từng bước nâng cao chất lượng tham mưu quản lý nhà nước về lĩnh vực xã hội. Với chức năng, đối tượng phục vụ rộng lớn, có tác động đến đời sống xã hội, trong đó nhiều lĩnh vực, công việc của Bộ được chủ động trong tổ chức thực hiện nhưng có nhiều công việc mang tính chất phối hợp phụ thuộc kết quả triển khai của các địa phương, các bộ, ngành.

Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung trả lời chất vấn

Làn sóng đại dịch Covid-19, từ một cuộc khủng hoảng y tế cộng đồng đã trở thành một cuộc khủng hoảng xã hội và việc làm. Tình trạng thâm hụt việc làm, bất bình đẳng khiến sinh kế của người dân bị đảo lộn, giảm sút về việc làm và thu nhập. Với tác động của đại dịch, nhất là đợt thứ 4 tới nay đã và đang gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng tới các hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước đến việc làm, đời sống của hàng triệu người lao động và người dân, nhất là khi dịch xâm nhập vào TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh trọng điểm kinh tế phía Nam, các khu công nghiệp, khu chế xuất, các doanh nghiệp nơi sử dụng đồng lao động.

Trước tình hình đó, Đảng, Nhà nước và các địa phương đã chủ động ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ người lao động, người sử dụng lao động. Đến nay, các gói hỗ trợ, các gói an sinh xã hội của Trung ương và các địa phương ban hành và đang triển khai đã góp phần quan trọng hỗ trợ người dân chung tay vượt qua nhiều khó khăn, từng bước ổn định cuộc sống, tinh thần tương thân, tương ái, nghĩa cử cao đẹp, những tấm gương sáng cộng đồng đang lan tỏa thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.

Tuy nhiên, trong lĩnh vực lao động, việc làm, an sinh an, dân và xã hội đã và đang có nhiều hệ lụy do tác động đại dịch để lại. Quy mô các chính sách hỗ trợ của chúng ta còn thấp, đòi hỏi sớm có chính sách hỗ trợ với quy mô lớn hơn, thời gian đủ dài, phạm vi đủ rộng để phục hồi, phát triển thị trường lao động và các vấn đề liên quan đến an sinh xã hội.

14:45

Chăm lo cho trẻ em mồ côi cha mẹ vì đại dịch Covid-19

Tại phiên họp, các đại biểu: Nguyễn Thị Việt Nga (Hải Dương); Nguyễn Thị Thu Dung (Thái Bình); Huỳnh Thị Phúc (Bà Rịa – Vũng Tàu); Dương Minh Ánh (Hà Nội);… chất vấn Bộ trưởng Bộ LĐTBXH các nội dung: Chăm lo cho trẻ em mồ côi cha mẹ vì đại dịch COVID-19; giải pháp khắc phục tình trạng thiếu hụt lao động ở các vùng kinh tế trọng điểm; giải pháp đơn giản hóa thủ tục để triển khai hiệu quả việc hỗ trợ người yếu thế bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh COVID-19, khắc phục tình trạng phát nhầm, nhận nhầm; giải pháp đổi mới giáo dục nghề nghiệp;…

14:56

Bộ có định hướng gì để giải quyết thực trạng thiếu hụt lao động tại các khu công nghiệp?

ĐBQH Huỳnh Thị Phúc (Bà Rịa - Vũng Tàu) chất vấn
Ảnh: Quang Khánh

ĐBQH Huỳnh Thị Phúc (Bà Rịa - Vũng Tàu) chất vấn, dịch Covid-19 đã tạo nên cuộc khủng hoảng xã hội, lao động và việc làm. Qua các số liệu về lao động, các vấn đề liên quan đến làn sóng dịch chuyển lao động tự phát từ các vùng kinh tế trọng điểm quay trở về quê đã làm thiếu hụt lao động tại các khu công nghiệp tại các địa phương có nhu cầu lao động. Vậy để thực hiện thích ứng an toàn, linh hoạt nhằm khôi phục sản xuất, phục hồi kinh tế, Bộ đã có định hướng gì để tham mưu giải quyết thực trạng thiếu hụt lao động như nêu trên? Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội có kế hoạch gì để phối hợp với các bộ, ngành địa phương khắc phục hạn chế và thống nhất việc tổ chức triển khai có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, chăm lo cho người dân bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 một cách chu đáo và tốt nhất?

Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung cho biết, Trong Báo cáo 177 ngày 8.11 đã viết rất kỹ (bốn trang) về các giải pháp này, trong đó đề cập sâu vào giải pháp giữ chân người lao động; thứ hai là thu hút người lao động quay trở lại; thứ ba là giải quyết việc làm cho người lao động ở những nơi mà họ đã về mà họ không trở lại nơi cũ và cũng không tìm việc làm mới; thứ tư là giải pháp điều tiết bổ sung trong những trường hợp đặc biệt ở những địa bàn, đối tượng, lĩnh vực cấp thiết. Trong đó, theo Bộ trưởng, có mấy vấn đề quan trọng nhất.

Một là, chúng ta phải lo thật tốt về chính sách, về đời sống, mức lương, thu nhập. Hai là, phải chăm lo an sinh thật tốt, phải có một sàn an sinh tối thiểu để người lao động có thể yên tâm đó là vấn đề nhà trọ, nhà ở, vấn đề sinh hoạt, vấn đề nơi có thể gửi con, chăm sóc con cái. Ba là phải bảo đảm cho an toàn tính mạng, sức khỏe của họ đó là tiêm vaccine.

Về khắc phục những hạn chế an sinh xã hội về lâu dài, Bộ trưởng cho biết, chủ trương Nghị quyết Đại hội Đảng XIII nêu rất rõ, chúng ta phấn đấu phát triển kinh tế thì đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội; không đánh đổi tiến bộ, công bằng xã hội để lấy phát triển kinh tế đơn thuần. Vì vậy, hiện nay mặc dù ngân sách còn nhiều khó khăn nhưng Việt Nam là một trong những quốc gia được xếp đứng đầu khối ASEAN về đầu tư ngân sách cho an sinh xã hội. Chúng ta có các chính sách tương đối đồng bộ và hoàn thiện kể cả cho người có công, người yếu thế, người già, người có hoàn cảnh neo đơn, cho trẻ em và các đối tượng khác.

Thời gian tới, theo chỉ đạo của Bộ Chính trị và Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đang tiếp tục hoàn thiện và xây dựng Đề án dự kiến đầu năm 2023 sẽ trình Ban Chấp hành Trung ương về củng cố, nâng cao chất lượng an sinh hay nói cách khác là nâng cao chất lượng các chính sách xã hội của người dân Việt Nam trong thời gian tới. Trong đó có rất nhiều vấn đề liên quan như đời sống, thu nhập cho người nghèo như thế nào, cho người yếu thế ra sao, cho người có công thế nào, về nước sạch và vệ sinh môi trường ra sao,… để thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, phân hóa xã hội, để mọi người ai cũng được tham gia và ai cũng được thụ hưởng thành quả xã hội.

15:12

Đổi mới giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, đa dạng

ĐBQH Dương Minh Ánh (Hà Nội)
Ảnh: Quang Khánh

Trả lời chất vấn của ĐBQH Dương Minh Ánh (Hà Nội) về cần phải làm gì để đổi mới hệ thống giáo dục nghề nghiệp, từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho sản xuất kinh doanh, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho rằng: Trước hết đổi mới giáo dục nghề nghiệp theo tinh thần chung, bám vào nguyên tắc chung là thực hiện theo Nghị quyết 29 của Trung ương, phải đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục nghề nghiệp. Thứ hai, đổi mới giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, đa dạng. Thứ ba, gắn kết chặt chẽ giữa Nhà nước, nhà trường với doanh nghiệp, phấn đấu để thực hiện mục tiêu là người dân hay nói cách khác là các bậc cha mẹ ủng hộ cho con cái học nghề. Làm sao để có chính sách, vừa tuyên truyền, xây dựng các thương hiệu tốt của các trường nghề, để học sinh tham gia nhiều hơn. Đồng thời trong quá trình học nghề, sinh viên được học liên thông nếu có nhu cầu. Đối với trường nghề, phải làm sao để khi học sinh ra trường có việc làm và có thu nhập tốt. Cuối cùng, Bộ sẽ xây dựng một chương trình nâng tầm kỹ năng lao động Việt Nam để đáp ứng yêu cầu hội nhập theo tinh thần của Chỉ thị 14 của Thủ tướng Chính phủ.

15:18

Đã thu hồi tiền phát nhầm đối tượng bị ảnh hưởng bởi Covid-19

ĐBQH Vương Thị Hương (Hà Giang)
Ảnh: Quang Khánh

Làm rõ những băn khoăn về thông tin một địa phương phát nhầm và nhận nhầm hỗ trợ do bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 của ĐBQH Vương Thị Hương (Hà Giang), Bộ trưởng Đào Ngọc Dung khẳng định đây là sự nhầm lẫn đáng tiếc. Bộ trưởng cho biết, ngay sau thời điểm nhận được thông tin, Bộ trưởng đã liên hệ với Bí thư Tỉnh ủy Bình Dương, nghiên cứu kỹ báo cáo của ngành lao động, thương binh và xã hội địa phương, đồng thời cử ngay đoàn công tác vào xử lý. Tham gia đoàn còn có đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động và một số bộ, ngành liên quan…Tại địa phương, đoàn đã kiểm tra thực tế tình hình, gặp những người trực tiếp phát, trực tiếp nhận. Con số cụ thể không phải là 22.000 người mà chỉ khoảng 1.490 trường hợp.

Đây là chính sách của tỉnh Bình Dương hỗ trợ thêm cho người lao động như giảm giá nhà trọ trong lúc khó khăn với mức 800 nghìn đồng/người. Tuy nhiên trong quá trình kê khai, số lượng tăng lên quá nhiều, tỉnh Bình Dương thấy bất thường đã tiến hành rà soát lại bằng máy, đồng thời mời Bộ Công an và Ngân hàng Chính sách xã hội vào cuộc, cùng rà soát trên cơ sở dữ liệu mới thấy tình trạng trùng lắp. Trên cơ sở đó, tỉnh Bình Dương đã dừng việc này và tiến hành rà soát lại nhưng đã có 1.990 người nhận với số tiền khoảng 1,6 tỷ đồng. Các trường hợp này phần lớn đã hoàn trả lại vì tự nhận thấy mình nhận không đúng. Đến nay, công việc này đã giải quyết xong và 1,6 tỷ đồng cũng đã thu hồi đầy đủ.

15:30

Kết quả sau 4 tháng triển khai gói hỗ trợ 26 nghìn tỷ như thế nào?

ĐBQH Lò Thị Việt Hà (Tuyên Quang)
Ảnh: Quang Khánh

Theo ĐBQH Lò Thị Việt Hà (Tuyên Quang), Việt Nam đã trải qua 4 đợt bùng phát dịch và có ảnh hưởng nghiêm trọng tới phát triển kinh tế, xã hội và đời sống của người dân, nhất là các tỉnh phía Nam. Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ, trong đó có gói 26 nghìn tỷ và được đánh giá là kịp thời, là đúng, trúng đối tượng. Xin Bộ trưởng cho biết, sau 4 tháng triển khai kết quả như thế nào và có đạt kết quả như mong muốn không?

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết, sau 4 tháng triển khai gói hỗ trợ 26 nghìn tỷ, tuy rằng trong quá trình thực hiện còn điều này, điều kia nhưng cơ bản các chính sách đều đang đi đúng hướng và hiệu quả, thiết thực ở cơ sở, được dư luận xã hội cũng như người thụ hưởng đồng ý. Tuy nhiên, thời gian 4 tháng này cũng còn rất ngắn so với chính sách bởi vì trong các chính sách này phần đa (khoảng 50%) là chính sách có tính chất hỗ trợ tức thì còn lại khoảng 50% các chính sách cho phép kéo dài hơn. Ví dụ như chính sách vay trả lương để phục hồi sản xuất cho phép kéo dài hết 31.3.2022, chính sách để hỗ trợ đào tạo lại cho lực lượng lao động sau giãn cách thì cho phép kéo dài làm thủ tục hết tháng 6.2022.

Còn những chính sách cụ thể thì có hiệu quả ngay như chính sách hỗ trợ bằng Nghị quyết 116 quy mô 38 nghìn tỷ đồng cho người tham gia bảo hiểm và đang bảo lưu chính sách bảo hiểm xã hội từ bảo hiểm thất nghiệp thì chỉ trong 5 ngày thôi chúng ta đã rà soát và giải quyết hỗ trợ cho 363 nghìn doanh nghiệp được hưởng chính sách này. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phấn đấu 15.11 này giải quyết căn bản số hỗ trợ này. Như vậy có thể thấy, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng về cơ bản chính sách của chúng ta đang đi đúng hướng và bước đầu cho thấy phát huy tác dụng.

15:43

Dự báo về thị trường lao động còn rất hạn chế

ĐBQH Nguyễn Minh Sơn (Tiền Giang) cho rằng, tình hình dự báo về thị trường lao động của chúng ta còn yếu, liên kết chưa đạt yêu cầu, vậy Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội có giải pháp khắc phục như thế nào?

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung nhận định, đây là những hạn chế của ngành lao động và lực lượng lao động nước ta và cũng là trăn trở của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Hiện trạng có hai vấn đề lớn. Thứ nhất, là đào tạo chưa thực sự gắn với nhu cầu của thị trường. Thứ hai, chất lượng lực lượng lao động còn thấp dẫn đến năng suất thấp, số lao động được đào tạo có chứng chỉ, bằng cấp so với mặt bằng chung của các quốc phát triển cũng thấp.

Nguyên nhân rất quan trọng là do việc dự báo nhu cầu rất hạn chế. Ở nhiệm kỳ XIV, khi làm việc với TP. Hồ Chí Minh, Bộ đã có "đặt hàng" với thành phố tiến hành dự báo cung - cầu ngắn hạn trong 4 tháng, ở một số ngành, một số lĩnh vực, đồng thời giao cho Viện Khoa học, Lao động và Xã hội cùng Tổng cục Thống kê đưa ra cung - cầu ngắn hạn trong 3 tháng. Báo cáo sau đó, kết quả người tham gia vào thị trường lao động ở những ngành nghề thực hiện dự báo là đang thiếu, đang cần có mức lương tốt lập tức thay đổi. Từ đó cho thấy nếu không sớm xây dựng một đề án dự báo cung - cầu lao động cả ngắn hạn, cả trung hạn và dài hạn thì chắc chắn thị trường lao động sẽ tiếp tục phát triển không đồng bộ theo hướng đó.

Ý thức về việc này, hiện nay chúng tôi đang được Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ trong đề án vào năm 2022 phải hoàn thiện nội dung này và được giao trong nội dung chương trình phục hồi kinh tế - xã hội của Chính phủ sẽ trình Quốc hội. Thứ hai, liên kết thời gian qua nhìn chung lỏng lẻo, đặc biệt trong giáo dục nghề nghiệp, gần như chúng ta mới bắt đầu khởi động việc gắn kết giữa nhà trường với doanh nghiệp. Trong khi đó, các quốc gia phát triển họ đã thực hiện gắn kết trước đó từ rất lâu. Ví dụ như mô hình đào tạo kép của Cộng hoà Liên bang Đức, mỗi doanh nghiệp phải có trách nhiệm là một trường nghề, trong doanh nghiệp có trường nghề, trong trường nghề có doanh nghiệp. Tất cả những công cụ, máy móc hiện đại nhất của doanh nghiệp đó đều được đặt trong trường học để cho học sinh vừa học vừa thử nghiệm. Do đó, theo tinh thần Chỉ thị 14 của Chính phủ, chúng tôi cũng đang được Thủ tướng giao xây dựng đề án gắn kết giữa nhà trường, doanh nghiệp với nhà nước.

Thực tế ở nước ta hiện nay đã có một số tập đoàn, doanh nghiệp lớn bắt đầu quan tâm vấn đề này và mở trường đào tạo nghề, nhưng phần lớn vẫn đang trông chờ vào kết quả đào tạo từ các trường nghề. Tuy nhiên, việc đào tạo nghề từ các trường, các cơ sở đào tạo vẫn không đúng chuyên môn và yêu cầu của các doanh nghiệp. Doanh nghiệp khi sử dụng lao động là sinh viên, người học ra trường lại không đúng chuyên môn và phải đào tạo lại. Do đó việc gắn kết nhiện nay vẫn chưa thật sự hiệu quả. Gần đây, tôi đã giao cho Tổng cục và lãnh đạo Bộ ký kết với rất nhiều tập đoàn lớn, cả trong nước và quốc tế, đồng thời yêu cầu các trường nghề, nhất là các trường cao đẳng có chất lượng cao phải ký kết với doanh nghiệp các vấn đề như xây dựng chương trình, chương trình thực tập và nhận người lao động sau khi tốt nghiệp. Như vậy, sinh viên, học sinh chưa ra trường đã biết mình về làm việc ở đâu, biết khả năng thu nhập, ngành nghề của mình như thế nào.

15:53

Công nghệ thông tin có giúp tránh nhầm lẫn khi hỗ trợ?

ĐBQH Nguyễn Lân Hiếu (Bình Định) đặt câu hỏi quỹ kết dư của bảo hiểm thất nghiệp sử dụng 24.000 tỷ trong tổng sống 38.000 tỷ đồng để hỗ trợ người lao động và sử dụng lao động, nếu dịch tiếp tục việc hỗ trợ sẽ được tiếp tục thế nào và quỹ kết dư còn lại có an toàn không. Về việc có sự nhầm lẫn, thiếu hụt trong việc triển khai gói hỗ trợ, đại biểu chất vấn Bộ trưởng, với vai trò của công nghệ thông tin có thể tránh được việc nhầm lẫn khi người cần thì chưa được nhận nhưng lại có những người nhận nhiều lần, từ nhiều nguồn khác nhau hay không?

Trả lời nội dung này, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết tính hết năm 2020, kết dư từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp là 90.600 tỷ đồng. Đây là mức tốt và an toàn cao. Nghị định của Chính phủ phấn đấu kết dư gấp 2 lần mức chi của năm liền kề và năm 2020 đã chi khoảng 1/4 số kết dư này. Trước tình hình dịch bệnh phức tạp, ảnh hưởng đến đời sống người dân trong đó có người đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp, Chính phủ nhận thấy nếu để kết dư lớn trong hoàn cảnh này thì không ổn.

“Do đó, sau khi đánh giá tác động và cân nhắc làm sao kết dư an toàn trong 5 năm tới, Chính phủ thấy rằng hoàn toàn có căn cứ để đề xuất Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến để sử dụng 38.000 tỷ đồng từ kết dư quỹ, trong đó 30.000 tỷ hỗ trợ người lao động và 8.000 tỷ hỗ trợ việc giảm đóng cho người sử dụng lao động”, ông Dung nói và cho biết đây cũng là giải pháp tình thế.

Như vậy, sau khi gói hỗ trợ này giải ngân xong, kết dư từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp còn khoảng 56.000 tỷ đồng, đảm bảo gấp 2 lần tổng mức chi trong năm qua nên có thể an tâm được với mức kết dư này.

Về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong triển khai gói hỗ trợ, tư lệnh ngành lao động cho biết trường hợp Bình Dương cũng nhờ công nghệ để phát hiện, rà soát, điều chỉnh danh sách thì mới loại ra được 22.000 người tưởng là bị hỗ trợ nhầm.

Ông nhấn mạnh nếu đưa công nghệ thông tin kết hợp với cơ sở dữ liệu dân cư và cơ sở dữ liệu lao động, đồng thời xem xét thì về cơ bản sẽ khắc phục được các bất cập trong hỗ trợ.

15:54

Hoat động thiện nguyện sẽ sớm đi vào nề nếp

Liên quan đến việc nhiều tổ chức, cá nhân đứng ra quyên góp làm từ thiện, ĐBQH Dương Văn Phước (Quảng Nam) cho rằng, hệ lụy từ sự tùy tiện trong việc quyên góp cũng như trong công tác quản lý chưa được chặt chẽ, dẫn đến việc sử dụng tiền quyên góp đôi khi chưa đúng mục đích, sự lùm xùm trên mạng vì tiền từ thiện làm mất ý nghĩa nhân văn của những tấm lòng thơm thảo, mất đi niềm tin các nhà hảo tâm và của người dân. Quan điểm của Bộ trưởng về vấn đề này như thế nào? Với trách nhiệm của mình thì Bộ trưởng sẽ làm gì để góp phần quản lý, điều chỉnh các hoạt động thiện nguyện, quyên góp, cứu trợ trong thời gian tới, đáp ứng lòng mong đợi của cử tri và nhân dân cả nước?

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết, Nghị định 64, năm 2008 của Chính phủ có đưa ra một nguyên tắc là khuyến khích các tổ chức, các cá nhân và mọi người dân tham gia làm việc từ thiện, tham gia cứu trợ, giúp đỡ người dân bị thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh… Nghị định 64 cũng quy định Bộ Tài chính có trách nhiệm thay mặt Nhà nước đứng ra thu các ủng hộ và tổ chức việc triển khai cấp phát; kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách huy động và giải quyết chính sách đối với người trong dịch bệnh và thiên tai, lũ bão. Đồng thời trong Nghị định 64 cũng đã duy định rất rõ Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hội chữ thập đỏ Việt Nam là cơ quan, tổ chức chính trị xã hội và tổ chức đứng ra để huy động, tổ chức các hoạt động thiện nguyện.

Tuy nhiên, trong nghị định và trong quy định của pháp luật có khuyến khích các tổ chức, cá nhân khác tiến hành kêu gọi quyên góp, ủng hộ nhưng chưa quy định cụ thể cách thức huy động của cá nhân thế nào, các tổ chức khác huy động ra sao. Do đó, về cơ bản, các tổ chức, cá nhân đã thực hiện việc chuyển hàng, tiếp nhận ủng hộ bão lũ, dịch bệnh đến với người dân, tuy nhiên, cũng còn tồn tại một số vấn đề tại chỗ này, chỗ kia.

“Quan điểm cá nhân tôi là khuyến khích các tổ chức, cá nhân kêu gọi, huy động làm từ thiện nhưng làm từ thiện phải dựa trên các nguyên tắc và phải được quy định bằng pháp luật. Chính vì vậy, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi Nghị định 64 và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 93 ngày 27.10.2021, trong đó quy định rất rõ nguyên tắc, tiêu chí cách làm từ việc vận động, nếu như quyên góp bằng tiền qua ngân hàng thực hiện như thế nào. Nếu quyên gióp bằng hiện vật thì ai là người nhận và khi triển khai ở cơ sở thì ai là người đứng ra cùng với cá nhân, tổ chức thực hiện. Chúng tôi tin rằng, sau ngày 1.12 này, khi Nghị định 93 có hiệu lực thì việc tổ chức các hoạt động  thiện nguyện sẽ đi vào nề nếp. Trong quá trình thực hiện quyên góp vừa qua, nếu cá nhân, tổ chức nào sai thì phải xử lý. Hình thức xử lý sẽ dựa trên các quy định của pháp luật.

16:01

Tuyên truyền để người lao động hiểu được lợi ích lâu dài của BHXH

Chất vấn Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung từ điểm cầu TP. Hồ Chí Minh, ĐBQH Nguyễn Thị Lệ đặt câu hỏi, giải pháp nào để người lao động không bán Sổ BHXH, chính sách thu hút người lao động tham gia BHXH và tạo động lực cho người lao động?

Trả lời câu hỏi của đại biểu, Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung cho biết, việc bán Sổ BHXH thời gian qua thực chất là người lao động đang tham gia BHXH sau đó rút BHXH để hưởng chính sách BHXH một lần và ngại đi làm thủ tục hoặc vì một số lý do nào đó đã nhượng lại sổ BHXH cho người khác đi lĩnh. Theo Bộ trưởng, cần giảm mức hưởng BHXH một lần. Bởi, từ đầu năm 2021 đến nay có 870 nghìn người đã rút sổ BHXH, so với năm 2020 con số này tăng rất nhiều. Có nhiều lý do dẫn đến tình trạng này, trong đó do đời sống khó khăn, dịch bệnh…

Để khắc phục tình trạng này, theo Bộ trưởng có 3 giải pháp căn cơ. Một là phải chăm lo cho người lao động. Bởi, phần đa rút sổ BHXH và bán sổ BHXH rơi hầu hết vào công nhân lao động, những người có hoàn cảnh khó khăn, có hoàn cảnh éo le… Do đó, để giải quyết tận gốc tình trạng này, thì phải nâng cao đời sống người lao động. Chỉ khi đời sống tốt, cuộc sống được bảo đảm thì sẽ không bán sổ BHXH.

Hai là, tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức để người lao động hiểu về sự cần thiết cũng như lợi ích lâu dài của BHXH, để có khoản lương hưu khi về già. 

Ba là, tiến hành tổng kết Nghị quyết số: 93/2015/QH13 để thực hiện Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội, đó là vấn đề rút BHXH một lần. Đồng thời, theo Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, giải pháp căn cơ là sửa Luật Bảo hiểm xã hội. Hiện Bộ đã hoàn thành hồ sơ để đến năm 2022 sẽ trình Quốc hội cho ý kiến. Ngoài ra, Bộ trưởng cho rằng, thay vì hưởng BHXH một lần thì tăng cường các lợi ích khác đối với người lao động, đơn cử ngoài việc hưởng tiền, còn được hưởng các lợi ích khác như tham quan, du lịch…

Trả lời chất vấn của đại biểu về vai trò, trách nhiệm của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội như thế nào trong việc trong việc xử lý, phòng ngừa các hành vi bạo lực, xâm hại trẻ em?, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết, quan điểm của các nước về vấn đề này rất khác nhau, với nước ta thì chưa có điều tra tổng thể về xâm hại trẻ em. Tuy nhiên, thời gian qua UNICEF, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Tổ chức Lao động Quốc tế cũng đang điều tra bước đầu ở một số nội dung cho thấy tỷ lệ xâm hại trẻ em ở Việt Nam tương đương với các nước ở châu Á.

Theo Bộ trưởng, Bộ Luật Hình sự đã có quy định về vấn đề này, nước ta cũng đã có Luật Trẻ em, gần đây Hội đồng Thẩm phán, Tòa án Nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các điều của Bộ luật Hình sự về việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi. Nhìn chung, hệ thống pháp luật quy định về vấn đề này tương đối đầy đủ, song một số quy định chưa cụ thể. Thời gian tới Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội sẽ phối hợp với Bộ Công an, các ngành chức năng để bảo vệ, phát hiện sớm nhất, xử lý nghiêm minh nhất, chăm sóc hỗ trợ trẻ em tốt hơn.

16:14

Xây dựng chính sách thu hút tư nhân vào bảo trợ xã hội

Trả lời chất vất của ĐBQH Nguyễn Minh Sơn (Tiền Giang) về việc công tác xã hội hóa trong trợ giúp xã hội còn nhiều bất cập, chưa thu hút được tư nhân đầu tư xây dựng cơ sở chăm sóc đối tượng bảo trợ xã hội, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung đánh giá thời gian vừa qua các cơ sở bảo trợ xã hội của Việt Nam phát triển tương đối nhanh. Hầu hết các cơ sở ở các địa phương đều có bốn loại hình cơ sở bảo trợ đó là: cơ sở chăm lo cho người có công; cơ sở chăm lo cho người nghiện ma túy; cơ sở cho người bị tâm thần; cơ sở cho trẻ em. Tuy nhiên, phần đông số này thì dựa vào các cơ sở công lập là chính, các cơ sở tư nhân gần đây thì có phát triển các loại hình cơ bản. Thứ nhất là các cơ sở bảo trợ do các tổ chức xã hội và tư nhân, các tổ chức tôn giáo đứng ra thành lập. Thứ hai, gần đây một số mạnh thường quân, các doanh nghiệp lớn đứng ra tổ chức xây dựng một số cơ sở bảo trợ xã hội dành cho người già, người neo đơn. Cá biệt có những người có những cơ sở đã thu hút tới hàng ngàn các cụ già; nuôi cả cụ ông, cụ bà cho đến khi qua đời.

Tuy nhiên, theo Bộ trưởng, cũng còn hai vấn đề. Thứ nhất, chúng ta chưa có chính sách đủ mạnh, đủ sức thu hút đối với cơ sở tư nhân tham gia vào các cơ sở bảo trợ. Ví dụ chúng ta có chính sách quy định đất đai được miễn thuế, giảm thuế nhưng chính sách thì quy định như thế nhưng xuống địa phương không có được. Đây là điều quan trọng nhất, các cơ sở và doanh nghiệp tư nhân đều phản ánh. Bộ trưởng cũng chia sẻ về ý kiến của một doanh nghiệp Nhật Bản rằng mất 4 tháng về một địa phương để xin một miếng đất làm cơ sở để nuôi dưỡng người già nhưng không được và cuối cùng phải đi tới tỉnh khác xa hơn nhưng may mắn được chấp nhận. Do đó chắc chắn sang năm 2022, 2023 việc đầu tiên là phải xây dựng chính sách để thu hút tư nhân và muốn có nhiều cơ sở tư nhân thì phải thu hút bằng chính sách.

16:26

Giải quyết việc làm cho lao động khuyết tật

ĐBQH Thái Thu Xương (Hậu Giang)
Ảnh: Quang Khánh

Đưa ra câu hỏi chất vấn, ĐBQH Thái Thu Xương (Hậu Giang) cho rằng, thời gian qua do dịch Covid-19 phức tạp, kéo dài làm ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, các doanh nghiệp thì phải ngừng hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng. Đặc biệt, trong đó có các doanh nghiệp xã hội thì càng khó khăn hơn. Theo dự báo, nếu tình hình dịch bệnh Covid-19 còn phức tạp, kéo dài thì khả năng các doanh nghiệp xã hội sẽ bị phá sản. Nếu các doanh nghiệp xã hội bị phá sản thì lao động khuyết tật trong các doanh nghiệp sẽ mất việc làm, các lao động này khó khăn lại càng khó khăn hơn. Với vai trò là ngành chuyên môn, Bộ trưởng sẽ tham mưu với Chính phủ đưa ra những giải pháp gì để hỗ trợ các doanh nghiệp xã hội tiếp tục duy trì sản xuất để giải quyết việc làm cho lao động khuyết tật?

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết, đã là doanh nghiệp, về mặt xã hội thì chắc chắn là khó khăn, lợi ích sẽ ít hơn, khó khăn hơn nhiều mà mang nặng hơn đó là cái tính xả thân vì cộng đồng. Còn nếu chỉ tính toán, toan tính về lợi ích sẽ không làm được. Do đó, muốn các doanh nghiệp này không phá sản và làm ăn được, chắc chắn là trong đề án hỗ trợ phục hồi phát triển kinh tế phải đặt thành một nhiệm vụ để có chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp.

16:28

Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo ở mức khoảng 15,6%

ĐBQH Nguyễn Thị Kim Anh (Bắc Ninh)
Ảnh: Quang Khánh

ĐBQH Nguyễn Thị Kim Anh (Bắc Ninh) cho biết, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 nhất là việc thực hiện giãn cách xã hội kéo dài, nhiều người dân gặp khó khăn về đời sống, đặc biệt là các hộ nghèo, hộ cận nghèo. Đề nghị Bộ trưởng cho biết rõ hơn Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã tổ chức đánh giá thực trạng này như thế nào và Bộ có giải pháp đề xuất, kiến nghị gì để thực hiện hiệu quả công tác giảm nghèo bền vững sau dịch?

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết, sau khi Quốc hội có Nghị quyết số 24 về phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 – 2025, Chính phủ đã khẩn trương bắt tay vào thiết kế các nội dung được giao. Trong đó, rà soát toàn bộ tỷ lệ hộ nghèo. Riêng công đoạn này phải làm từ cơ sở trở lên, không phải bình xét mà phải rà soát theo tiêu chí. Ngay việc xây dựng tiêu chí, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội lấy ý kiến địa phương và các bộ, ngành. Trên cơ sở các tiêu chí, Bộ tổ chức rà soát hộ nghèo, hiện các hộ nghèo và cận nghèo ở mức khoảng 15,6%.

Bộ cũng đã hoàn thiện báo cáo nghiên cứu khả thi, hiện Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đang giao cho Hội đồng thẩm định Báo cáo Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 để hội đồng thẩm định trong tháng 11, dự kiến tháng 12 Chính phủ sẽ thông qua. Như vậy, trong tháng 12 Chính phủ sẽ phê duyệt toàn bộ chương trình để đảm bảo đúng ngày 1.1.2022 bắt đầu được triển khai trên quy mô cả nước.

Về ba lưu ý của Quốc hội, trong đó có kết nối giữa 3 chương trình, Bộ trưởng cho biết Chính phủ đã phân công Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh là Trưởng ban chỉ đạo. Bộ sẽ đảm bảo chương trình này được thực hiện sớm nhất. Với kinh nghiệm và triển khai 5 năm qua, Bộ trưởng tin tưởng chương trình sẽ thành công.

16:31

30% lao động về quê có nhu cầu quay lại các thành phố làm việc

ĐBQH Trình Lam Sinh (An Giang) chất vấn, trong thời gian qua đã có rất nhiều người dân trở về quê tránh dịch, riêng An Giang có trên 70 nghìn người. Việc này đã làm phát sinh nhiều vấn đề về an sinh xã hội, nhiều người mất việc làm, thu nhập cuộc sống bấp bênh nhất là người nghèo, người già và trẻ em. Giữa bối cảnh đó, đại biểu gửi đến Bộ trưởng Đào Ngọc Dung hai câu hỏi. Thứ nhất, là cơ quan quản lý nhà nước, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Chính phủ đã có những chính sách gì để hỗ trợ cho người lao động trở về quê để họ không bị bỏ lại phía sau? Thứ hai, liên quan đến Nghị quyết 68/NQ-CP ngày 1.7.2021 và các chính sách hỗ trợ cho lao động tự do, đề nghị Bộ trưởng cho biết kết quả triển khai đến thời điểm hiện nay? Tại sao cũng là lao động tự do nhưng có nơi thì được hỗ trợ nơi thì không?

Theo Bộ trưởng Đào Ngọc Dung, lực lượng lao động trở về quê trong đợt dịch thứ tư là tương đối lớn, có ý kiến khác nhau về số liệu nhưng sau khi đã nghe và xem trực tiếp tổng kết tất cả báo cáo của các địa phương cùng với thống kê tiến hành rà soát, phân loại ban đầu thì con số chính thức lao động về quê của chúng ta khoảng 1,3 triệu người, chiếm 60% trong tổng số người dân di chuyển từ TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội và các vùng trọng điểm kinh tế phía Nam về quê. Qua khảo sát và làm việc với các tỉnh phía Nam cho thấy khoảng 30% người dân các địa phương đã về quê có nhu cầu quay trở lại TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam làm việc; 30% muốn chuyển sang lĩnh vực khác ở các địa bàn khác, còn lại phần đông là muốn ở lại quê. Nhưng trong số ở lại quê thì cũng chỉ có khoảng 40% muốn có công việc tại quê.

Trên cơ sở đó, Bộ đã liên hệ và sau khi trao đổi với các địa phương thì thấy có ba vấn đề lớn. Thứ nhất, các địa phương cùng với TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận, vùng kinh tế trọng điểm có kết nối để vận động, thuyết phục, giới thiệu người lao động quay trở lại làm việc. Thứ hai, các địa phương cũng chủ động liên kết, kết nối với các địa phương khác, thậm chí ngay cả trong vùng để có thể giới thiệu việc làm. Đơn cử như tỉnh Thanh Hóa, Bộ trưởng cho biết, thời gian qua đã giới thiệu người lao động về quê đi làm việc ở các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nam. Riêng Bắc Giang, cho đến thời điểm này đã tăng hơn 50 nghìn lao động so với thời điểm trước dịch. Thứ ba, là tạo việc làm tại chỗ, như Quảng Trị, Quảng Nam tiếp nhận toàn bộ những công nhân nghề may và một số lĩnh vực khác cho công nhân làm việc tại địa phương mình.

Bộ trưởng cho rằng, cần tập trung triển khai các chính sách như chính sách giảm nghèo, chính sách cho vay quỹ quốc gia giải quyết việc làm… để hỗ trợ cho người lao động có thể ổn định, tạo công việc mới ở địa phương.

Liên quan đến kết quả triển khai gói hỗ trợ an sinh xã hội cho lao động tự do, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết, rút kinh nghiệm từ Nghị quyết 42/NQ-CP, trong Nghị quyết 68, Thủ tướng Chính phủ trực tiếp chỉ đạo phải tạo ra sự linh hoạt cho địa phương. Vì vậy, sau khi khảo sát, đánh giá, Bộ mới đưa ra đề xuất một chính sách như chỉ quy định sàn mức hưởng cho lao động tự do, còn đối tượng và mức như thế nào là do địa phương xem xét, quyết định trên cơ sở ngân sách cũng như đối tượng cụ thể.

Thực tiễn, nếu năm 2000 chúng ta chỉ hỗ trợ được 1 triệu người, thì với Nghị quyết 68 đã có 56 tỉnh, thành phố báo cáo đã hỗ trợ cho 12,99 triệu lao động tự do, kinh phí tới 16,99 nghìn tỷ đồng. Vì sao chính sách hỗ trợ chưa đồng đều, có nơi được có nơi không? Bởi vì phụ thuộc vào quy định chính sách, ngân sách của địa phương, người lao động có nằm trong nhóm mà địa phương quy định hay không. Có những địa phương ngân sách dự phòng không còn, do đó chưa hỗ trợ hoặc chậm hỗ trợ lao động tự do cũng là một nguyên nhân. Bộ trưởng cho biết, sau khi tổng kết Nghị quyết 68 sẽ báo cáo Thủ tướng để có thể điều chỉnh những vấn đề chính sách cho phù hợp hơn.

16:33

Xảy ra tình trạng trục lợi chính sách hỗ trợ ở một số địa phương

ĐBQH Nguyễn Đại Thắng (Hưng Yên)
Ảnh: Quang Khánh

ĐBQH Nguyễn Đại Thắng (Hưng Yên) chất vấn với hai câu hỏi. Thứ nhất, thời gian qua dư luận rất bất bình về trục lợi chính sách hỗ trợ dù rằng là cá biệt, xin Bộ trưởng cho biết công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm được tiến hành như thế nào đã xử lý ra sao? Thứ hai, các chính sách hỗ trợ theo Nghị quyết số 68 và 116 đều hướng tới người lao động và người sử dụng lao động đã phát huy hiệu quả rất tốt. Tuy nhiên, qua số liệu cho thấy người lao động có giao kết hợp đồng lao động như trong báo cáo được hỗ trợ còn ít, xin Bộ trưởng cho biết vì sao? Theo Bộ trưởng cần quan tâm vấn đề gì để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên?

Theo Bộ trưởng Đào Ngọc Dung, trước hết, khi xây dựng Nghị quyết 68/NQ-CP, Quyết định 23/2021/QĐ-TTg, Quyết định 33/2021/QĐ-TTg, Nghị quyết 116/NQ-CP, Nghị quyết 126/NQ-CP, tất cả các chính sách này đều quy định rất rõ, phân công trách nhiệm cho người đứng đầu của tổ chức địa phương, của các ngành được phân công. Ví dụ, liên quan đến chính sách vay cho người lao động thì Thống đốc Ngân hàng; liên quan đến toàn bộ gói hỗ trợ tiền mặt chỉ đạo là Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội; liên quan hỗ trợ các gói về vay vốn và giải quyết việc làm cũng như bảo hiểm thì giao cho Tổng giám đốc Bảo hiểm Xã hội Việt Nam.

Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo trực tiếp Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, bảo hiểm, ngân hàng tổ chức 12 đoàn kiểm tra ở 33 tỉnh, thành phố. Kết quả cho thấy ở một số địa phương đã xảy tình trạng trục lợi. Cụ thể, gói hỗ trợ theo Nghị quyết 42 đã phát hiện và xử lý 4 trường hợp ở 4 địa phương, trong đó có những địa phương cách chức cả Bí thư, Chủ tịch Mặt trận, Bí thư Đoàn Thanh niên vì lý do để người nhà trong danh sách hộ nghèo và danh sách hưởng chính sách.

Đối với gói hỗ trợ theo Nghị quyết số 68, Bộ trưởng cho biết là có, thậm chí khởi tố hình sự 2 trường hợp trục lợi chính sách, đưa người không thuộc đối tượng được hưởng vào danh sách để rút tiền trục lợi. Theo Bộ trưởng, hiện nay tất cả các địa phương đều quan tâm kiểm tra, giám sát, điều chỉnh. Đây là điều không tránh được, tuy nhiên về cơ bản các địa phương đã đảm bảo được công khai, minh bạch, đúng đối tượng.

16:39

Tiếp tục rà soát chính sách an sinh xã hội cho các đối tượng yếu thế

ĐBQH Tạ Thị Yên (Điện Biên) đặt câu hỏi: Các đối tượng yếu thế trong xã hội như đối tượng chính sách, người già, người tàn tật, lao động đường phố, khu vực kinh tế không chính thức đã được quan tâm hỗ trợ trong các đợt bùng phát dịch Covid-19 vừa qua. Tuy nhiên, sau dịch bệnh kinh tế phục hồi chậm do tỉ lệ bao phủ vaccine, cách phòng dịch khác nhau giữa các địa phương trong nước, giữa các quốc gia trong khu vực và trên thế giới nên việc làm và thu nhập của các đối tượng này tiếp tục bị ảnh hưởng và có thể kéo dài. Xin Bộ trưởng cho biết, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã nắm bắt, nghiên cứu và dự kiến đề xuất tham mưu cho Quốc hội, Chính phủ giải quyết vấn đề này như thế nào trong thời gian tới để đảm bảo an dân, ổn định xã hội, tập trung phục hồi kinh tế?

Trả lời vấn đề này, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết, thời gian qua, ngoài các chính sách dành cho từng đối tượng yếu thế từ Nghị định 20, Nghị định 36, Nghị định 75 và các chính sách khác, chúng ta cơ bản đã bao phủ các đối tượng yếu thế. Chẳng hạn, Nghị quyết 68 đã quy định rất rõ, hỗ trợ cho người nghèo, đối tượng bảo trợ, đối tượng người có công và trong đợt bùng phát dịch bệnh lần 4, các địa phương cũng hầu hết mở rộng đối tượng này và những đối tượng khác tùy theo khả năng kinh phí, cũng như nhu cầu của địa phương.

Bộ trưởng nhấn mạnh, thời gian tới, chắc chắn sẽ tiếp tục rà soát lại những chính sách đã có, chính sách nào thấy không phù hợp nữa thì trình với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phủ cho sửa đổi.

16:45

Hỗ trợ sinh kế, tạo việc làm cho lao động nữ bị ảnh hưởng bởi Covid-19

ĐBQH Nguyễn Minh Tâm (Quảng Bình)
Ảnh: Quang Khánh

ĐBQH Nguyễn Minh Tâm (Quảng Bình) nêu vấn đề: Bài toán việc làm đang đặt ra cho hàng triệu lao động trong bối cảnh nền kinh tế đang dần hồi phục sau dịch. Đối với lao động nữ, bài toán này càng trở nên nan giải. Theo đại biểu, khi trẻ em vẫn chưa được trở lại trường, phụ nữ phải đối mặt một lúc rất nhiều áp lực: áp lực chăm sóc con cái, áp lực tài chính… làm mất đi cơ hội tìm kiếm việc làm, thăng tiến trong sự nghiệp và nguy cơ bất bình đẳng giới càng gia tăng sau đại dịch. Đại biểu đề nghị Bộ trưởng cho biết những giải pháp nào để hỗ trợ sinh kế, tạo việc làm cho lao động nữ trong thời gian tới?

Trả lời câu hỏi của đại biểu, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết, thời gian vừa qua, chúng ta thấy rất rõ phụ nữ và trẻ em là hai đối tượng bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi đại dịch Covid-19, đặc biệt là phụ nữ nuôi con nhỏ. Do đó, trong Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 1.7.2021 của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch, chúng ta có những chính sách dành riêng cho phụ nữ, nhất là phụ nữ mang thai, phụ nữ nuôi con nhỏ.

Gần đây trong phiên làm việc giữa Thủ tướng Chính phủ với Trung ương Hội Phụ nữ Việt Nam, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội được Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ đến đầu năm 2022 xây dựng chính sách riêng dành cho phụ nữ. Vì vậy, trong chương trình phục hồi và phát triển thị trường lao động, trong 7 nhóm giải pháp thì đã có một nhóm giải pháp dành riêng cho hỗ trợ lao động nữ, trong đó có hỗ trợ vay vốn với lãi suất thấp có thể lên tới gấp 3 lần so với bình thường, Bộ trưởng nêu rõ.

Bên cạnh đó, về hỗ trợ trong chương trình bình đẳng giới, Bộ sẽ phối hợp với UNDP, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) xây dựng một đề án trong chiến lược 10 năm tới về phát triển và bảo đảm quyền bình đẳng giới, nhất là tiếp cận các quyền cũng như các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

16:57

Cơ chế, chính sách đã thông thoáng nhất có thể

ĐBQH Đinh Thị Ngọc Dung (Hải Dương)
Ảnh: Quang Khánh

Trả lời chất vấn của ĐBQH Đinh Thị Ngọc Dung (Hải Dương) về việc chậm triển khai hỗ trợ các đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết, đây là chính sách chưa có tiền lệ và nhiều nội dung chưa có trong quy định pháp luật, Chính phủ không có thẩm quyền, thậm chí vượt thẩm quyền. Do đó, khi có yêu cầu không để ai thiếu ăn, thiếu mặc, ngành lao động, thương binh và xã hội cùng với các ngành chức năng làm ngày làm đêm. Việc xây dựng chính sách được triển khai rất nhanh. Bộ trưởng khẳng định tất cả các thủ tục, các quy định trong Nghị quyết 68 và Nghị quyết 116 đều ở mức độ thông thoáng nhất có thể, không thể thông thoáng hơn nữa. Người lao động không phải kê khai gì, bảo hiểm tự động chuyển tiền vào tài khoản của mình. Doanh nghiệp cũng vậy, chỉ trong 5 ngày đã có 365 nghìn doanh nghiệp được hưởng hỗ trợ - Bộ trưởng Đào Ngọc Dung thông tin.

Theo Bộ trưởng Đào Ngọc Dung, phương châm thực hiện theo chỉ đạo của Thủ tướng là chính sách ban hành dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm và dễ thụ hưởng. Do đó, trong một tháng rưỡi thực hiện Nghị quyết 68 chỉ phát hiện 2 vướng mắc, 1 trường hợp ở Bình Dương và 1 vướng mắc liên quan đến xác định thu thuế. Thủ tướng Chính phủ cũng cho phép sửa Nghị quyết 68 bằng Nghị quyết 126, thay Quyết định 23 bằng Quyết định 33.

Dù khẳng định đã nỗ lực hết sức nhưng Bộ trưởng cũng thừa nhận trong quá trình tổ chức thực hiện,có nơi này nơi kia còn cứng nhắc, máy móc. Cụ thể như việc hỗ trợ cho người F0, F1 và trẻ em ăn 80 nghìn đồng/ngày, có địa phương kiến nghị tới 3 trang giấy. Sau đó Bộ trưởng phải khẳng định, nếu như không ai thanh toán, Bộ trưởng chịu trách nhiệm, khi ấy địa phương mới triển khai.

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cũng thừa nhận, để xảy ra tình trạng trên có lỗi của ngành lao động, thương binh và xã hội đã tuyên truyền phổ biến không kỹ, không đầy đủ. " Về cơ bản, thủ tục chính sách chặt chẽ và khó có thể rút gọn hơn nữa", Bộ trưởng khẳng định. 

17:02

Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm: Đã chỉ đạo lực lượng toàn công an quốc rà soát, nắm tình hình hoạt động từ thiện

Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm
Ảnh: Quang Khánh

Tham gia trả lời chất vấn về việc rà soát những kết quả tiếp nhận, giải quyết đơn tố cáo sai phạm trong hoạt động quyên góp từ thiện, Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm cho biết, đã giao Cục Cảnh sát hình sự tiến hành thụ lý, kiểm tra, xác minh các nguồn tin phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng về hoạt động quyên góp, tiền từ thiện, cứu trợ của một số nghệ sĩ trong đợt bão lũ xảy ra tại miền Trung năm 2020 để làm rõ theo quy định của pháp luật. Hiện Cục Cảnh sát hình sự đang phối hợp với các ngân hàng để tiến hành rà soát, xác định những tài khoản đã huy động từ thiện; phối hợp với Ủy ban Nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp của các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi xác minh, làm rõ số tiền mà nghệ sĩ đã tiến hành cứu trợ từ thiện tại các địa phương; làm việc với một số cá nhân, tổ chức để cung cấp thông tin có liên quan nhằm sớm kết luận vụ việc theo quy định của pháp luật.

Đồng thời, Cục Cảnh sát hình sự cũng đã chỉ đạo lực lượng công an toàn quốc rà soát, nắm tình hình hoạt động từ thiện diễn ra trên địa bàn, kịp thời phát hiện các trường hợp cá nhân, tổ chức lợi dụng các hoạt động kêu gọi từ thiện để thực hiện các hành vi chiếm đoạt tài sản. Qua rà soát, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Hồ Chí Minh đã tiếp nhận 6 tố giác về tội phạm của công dân có liên quan đến việc huy động tiền từ thiện của các nghệ sĩ. Hiện nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Hồ Chí Minh đã tổ chức tiếp nhận, phân loại 6 tố giác theo đúng quy trình của pháp luật tố tụng hình sự.

Đồng thời, qua công tác rà soát, nắm tình hình, Bộ Công an cũng sẽ tiến hành kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu sửa đổi các quy định của pháp luật liên quan đến vận động tiếp nhận, phân bổ, sử dụng các cái nguồn đóng góp tự nguyện, hỗ trợ khắc phục khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, các sự cố nghiêm trọng, các bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo theo hướng bổ sung các quy định về hoạt động này, đảm bảo công khai, minh bạch và vừa qua đã ban hành Nghị định 93/2021/NĐ-CP.

17:09

Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc: Nghị định 93/2021/NĐ-CP đã khắc phuc những hạn chế trong công tác thiện nguyện

Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc
Ảnh: Quang Khánh

Tại phiên chất vấn, Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc giải trình thêm về trách nhiệm quản lý nhà nước trong hoạt động thiện nguyện. Theo Bộ trưởng, đối với hoạt động thiên nguyện, Nghị định 64 năm 2008 đã bộc lộ một số nhược điểm, chẳng hạn như về tính minh bạch, công khai đối với hoạt động thiện nguyện, quy định đối với việc quản lý, sử dụng và phân phối hàng hoá hoặc tiền và vấn đề mở tài khoản, đăng ký vận động... Những hạn chế và nhược điểm đó đều đã được khắc phục bởi Nghị định 93/2021/NĐ-CP.

Nghị định 93 đã hạn chế những tồn tại và khuyết điểm của Nghị định 64, quy định rõ các đối tượng như Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Hội chữ thập đỏ đến các tổ chức, cá nhân, các đơn vị liên quan thực hiện vấn đề thiện nguyện, vận động, tài trợ. Quy định rõ về việc quản lý tiền hay quản lý các loại hàng hóa như vàng, ngoại tệ và việc phân bổ các vật tư, hàng hóa, tiền cho các đối tượng được thụ hưởng. Quy định vấn đề ghi chép một cách đầy đủ quá trình hoạt động và được mở tài khoản tại ngân hàng thương mại theo từng đợt vận động hoặc là tại kho bạc. Sau đợt vận động các tổ chức, cá nhân phải thực hiện việc đóng tài khoản, niêm yết công khai đối với hàng hóa, tiền hoặc tài sản đã nhận vận động và phân phối số hàng hóa đó minh bạch. Đồng thời, quy định chế độ báo cáo chặt chẽ như trước khi vận động thì phải đăng ký với UBND nơi tổ chức vận động; trong thời hạn 3 ngày thì UBND phải phối hợp giải quyết…

Nghị định 93 cũng quy định các hình thực đóng góp như tự nguyện giảm giá dịch vụ như giá nước, giá điện, và các loại dịch vụ khác. Về vấn đề thanh tra, kiểm tra, giao cho các bộ như Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Tài và một số Bộ, ngành khác trong quá trình thực hiện thanh tra hoạt động vận động tài trợ có đúng quy định của pháp luật hay không để xử lý một cách chặt chẽ, nghiêm minh.

17:12

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ: Các thành viên Chính phủ giải trình, làm rõ trách nhiệm trong việc người dân rời thành phố về quê

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ
Ảnh:Lâm Hiển

Về chất vấn của ĐBQH Trần Đình Gia (Hà Tĩnh) rằng trách nhiệm nhiệm của cơ quan nhà nước ở đâu? Có sự lúng túng, bị động và không khi nhiều lao động từ các tỉnh, thành phố về quê tránh dịch? Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho rằng, có một phần trách nhiệm chứ không phải Bộ chịu trách nhiệm chính vì vấn đề này còn liên quan liên quan đến cả việc di dân, vấn đề an ninh, trật tự, đi lại… liên quan rất nhiều bộ, ngành...

Cho ý kiến về vấn đề này, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cho rằng, làn sóng lao động rời bỏ TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh trọng điểm kinh tế phía Nam về các địa phương không chỉ một lần, mà là ba lần và theo số liệu của Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thì con số này vào khoảng 3 triệu người. Đây là ý kiến đại biểu Trần Đình Gia và những ý kiến của cử tri đã được tổng hợp thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các Đoàn đại biểu Quốc hội gửi về Kỳ họp thứ Hai. Chủ tịch Quốc hội đề nghị, từ nay cho đến kết thúc phiên chất vấn, các thành viên Chính phủ tranh thủ báo cáo giải trình, làm rõ thêm vấn đề này trước Quốc hội và trước cử tri. Chúng ta phải xác định rõ nguyên nhân vì sao, trách nhiệm của các bộ, ngành hữu quan như thế nào, nhất là trách nhiệm của Nhà nước đối với dân.

Vấn đề quan trọng hiện nay là giải pháp giải quyết việc thiếu hụt lao động ở các thị trường này. Thứ hai là giải quyết sinh kế là việc làm cho người lao động đang đi về các tỉnh. Quan trọng hơn nữa là qua việc này chúng ta rút ra được bài học kinh nghiệm gì trong việc phân tích, đánh giá, dự báo. Chúng ta có cam kết không là không để xảy ra tình trạng này trong tương lai không, nhất là khi tình hình dịch bệnh cũng đang rất khó lường. Chúng ta không được chủ quan, cần phải thảo luận về các nguyên nhân và trách nhiệm giải quyết các vấn đề sắp tới như thế nào và cần làm gì để không tái diễn thực trạng trên. Trách nhiệm của chính quyền Trung ương và cả chính quyền địa phương nơi có lao động rời đi và địa phương trở về và cách thức tổ chức nhận lại lao động như thế nào cũng là vấn đề cử tri rất quan tâm.

08:17

Quan tâm khả năng tiếp cận vốn vay cho lao động di cư

Sáng 11.11, tiếp tục phiên chất vấn đối với Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung, Bộ trưởng trả lời câu hỏi của ĐBQH Lưu Văn Đức (Đắk Lắk) về khả năng tiếp cận vốn vay, việc làm của lao động di cư. Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết sẽ tiếp thu ý kiến của đại biểu và sẽ đưa vào chương trình phục kinh tế - xã hội tới đây. Bộ trưởng khẳng định, sẽ cố gắng tạo điều kiện cho người lao động, nhất là với những lao động dịch chuyển có thể tiếp cận vốn vay, bao gồm hộ kinh doanh và lao động phi chính thức.

Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung trả lời chất vấn

Ảnh: Quang Khánh 

Bộ trưởng cho rằng, việc tăng cường vốn vay, đặc biệt là vốn vay thông qua hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội để giải quyết việc làm có hiệu quả khá cao, tỷ lệ nợ xấu lại rất thấp. Do đó, Bộ tán thành đề xuất này và tiếp thu. Có thể trong Quyết định 2086/QĐ-TTg về giải quyết đất ở, đất và nước sinh hoạt có thể áp dụng các tiêu chí này thêm để hỗ trợ. Và trong Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, có thể căn cứ vào tiêu chí này để hỗ trợ phân bổ thêm nguồn lực cho những đối tượng này.

08:22

An toàn mới sản xuất, sản xuất phải đảm bảo an toàn

Cũng trong sáng nay, chất vấn Bộ trưởng Đào Ngọc Dung, ĐBQH Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp) nêu vấn đề áp dụng phương thức "3 tại chỗ", "một cung đường, hai điểm" ở một số nơi chưa phù hợp, sinh hoạt rất khó khăn, có thể lây nhiễm, gây tâm lý bất ổn cho người lao động và doanh nghiệp, tăng gánh nặng chi phí cho doanh nghiệp. Nhưng vì không thể đứt gãy chuỗi cung ứng lao động nghiệp đành phải chấp nhận sản xuất nếu vẫn còn áp dụng sau này, Bộ trưởng có chia sẻ gì về gánh nặng này đối với doanh nghiệp? Nhiều lao động phi chính thức, lao động tự do, người lao động không đăng ký tạm trú phản ánh chưa tiếp cận được các gói hỗ trợ của Chính phủ, dư luận bức xúc trước việc hỗ trợ thiếu sự công bằng. Xin Bộ trưởng chia sẻ vấn đề này cho cử tri?

Đối với việc áp dụng mô hình 3 tại chỗ, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết, mô hình 3 tại chỗ và một số mô hình trong phòng, chống dịch trước khi Việt Nam áp dụng, thì các nước như Singapore và Indonesia đã áp dụng mô hình này. Ở nước ta, Bắc Ninh, Bắc Giang là những tỉnh đầu tiên áp dụng, trên cơ sở đó một số địa phương cũng đã áp dụng mô hình này. Bộ trưởng khẳng định, Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ và Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch bệnh Covid-19 nói chung không áp đặt mô hình nào với doanh nghiệp, địa phương trong phòng, chống dịch. Nguyên tắc của Chính phủ và Ban chỉ đạo đưa ra là an toàn mới sản xuất, sản xuất phải đảm bảo an toàn. Do đó, từng địa phương xem xét, quyết định trên thực tế cũng như khả năng thực hiện của mình. Bộ trưởng rất chia sẻ vì mô hình "3 tại chỗ" chỉ thực hiện tốt nhất ở doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Qua báo cáo của các địa phương, khảo sát các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp sản xuất, Bộ trưởng thấy rằng, hầu như các mô hình này chỉ phù hợp khi áp dụng trong một thời gian ngắn, quy mô vừa phải.

Về vấn đề một số người lao động tự do chưa được tiếp cận các gói hỗ trợ, Bộ trưởng cho biết, trong quá trình triển khai các chính sách hỗ trợ, do điều kiện giãn cách khó khăn, đối tượng phục vụ cùng một lúc quá lớn, thậm chí có tới hàng chục triệu người cùng một thời điểm và yêu cầu gấp gáp, quá trình tổ chức thực hiện của ngành Lao động, Thương binh và Xã hội và một số địa phương không còn những điều khiếm khuyết. Tiếp thu ý kiến đại biểu, Bộ trưởng sẽ chỉ đạo các địa phương tiếp tục rà soát lại toàn bộ các đối tượng trong diện được nhận hỗ trợ để điều chỉnh, để những người chưa nhận được hoặc chậm được nhận sẽ tiếp cận chính sách này.  

08:30

Chú trọng nâng cao đào tạo tay nghề cho người lao động

ĐBQH Vũ Tiến Lộc (TP. Hà Nội) chất vấn 3 vấn đề: Thứ nhất, vấn đề việc làm đang trở thành vấn đề rất quan trọng trong thời kỳ cuộc cách mạng 4.0, khi làn sóng người lao động đã đổ về quê, đòi hỏi có giải pháp tổng thể từ phía Chính phủ và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Đề nghị Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội nêu ý kiến về vấn đề này? Thứ hai, về đào tạo nghề, sau 36 năm đổi mới thì cứ 4 lao động mới có 1 người được đào tạo nghề có tay nghề. Bộ trưởng cho biết giải pháp để tạo đột phá, ngang bằng với các nước ASEAN? Đối tác công tư được áp dụng trong lĩnh vực này như thế nào? Thứ ba, đại biểu kiến nghị nên có báo cáo về lao động việc làm hàng năm và ban hành sách trắng hàng năm về vấn đề này để báo cáo với Quốc hội, có sơ đồ về việc làm và nghề nghiệp hàng năm để định hướng cho xã hội.

Về nội dung thứ nhất, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết, chúng ta có lực lượng lao động rất dồi dào, 55 triệu người, nhưng chúng ta phải giải quyết hai bài toán: đó là chăm lo, nâng cao chất lượng lực lượng lao động nói chung. Nhất là trong bối cảnh 65% lực lượng lao động của chúng ta có đào tạo nhưng chỉ có 24,5% có chứng chỉ, bằng cấp. So với mặt bằng chung của các nước ASEAN là tương đối thấp. Cùng với đó là xu hướng tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ làm thay đổi bản chất của công việc. Dự báo của Tổ chức Lao động quốc tế đối với Việt Nam cho thấy trong 5 năm tới sẽ có khoảng 1/3 công việc sẽ thay đổi, 40% lao động khó có khả năng đáp ứng yêu cầu mới khi kỹ năng lao động không được nâng lên. Chính vì vậy, trong mục tiêu đã đặt ra là đến hết năm 2025 thì chúng ta có khoảng 30-35% lực lượng lao động có bằng cấp, chứng chỉ và đến năm 2030 phấn đấu là 44%. Đây là chỉ tiêu có thể là rất cao và đòi hỏi nỗ lực rất lớn.

Bộ trưởng cho rằng, chúng ta phải đào tạo và đào tạo lại, nâng cao tay nghề, đào tạo lao động thích ứng công nghệ mới. Việc đào tạo sẽ tiến hành chủ yếu thông qua doanh nghiệp và đào tạo thông qua các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cơ sở giáo dục nói chung. Chính phủ có chủ trương, chính sách nhằm đào tạo, hình thành lực lượng lao động chất lượng cao nhằm tiếp cận và bắt kịp trình độ các nước ASEAN4 và G20. Trọng tâm là đào tạo trình độ cao đẳng chất lượng cao, lấy đó làm nền tảng trong đào tạo nghề. Chính phủ đã cho phép hình thành khoảng 80 trường chất lượng cao trong nhiệm kỳ này. Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ cũng đã thiết lập một số trung tâm vùng, quốc gia, trung tâm vùng về đào tạo và thực hành có chức năng dẫn dắt đào tạo nghề trong tương lai. Trong đó tập trung đào tạo những ngành nghề, lĩnh vực trọng điểm nhất là các lĩnh vực của chúng ta đang thiếu, đòi hỏi chất lượng cao, đặc biệt là thành lập 3 trung tâm vùng ở miền Bắc, miền Trung và miền Nam. Đào tạo nghề sẽ tiếp tục theo hướng mở, liên thông, linh hoạt, bao trùm gắn với học tập và nâng cao tay nghề suốt đời.

Về nội dung hợp tác công tư trong giáo dục nghề nghiệp, Bộ trưởng cho biết, thị trường lao động là thị trường quan trọng của nền kinh tế. Trong Nghị quyết và Kế hoạch tái cơ cấu 5 năm tới cũng đã đặt vấn đề này. Trong giáo dục nghề nghiệp, hợp tác công tư là nguồn lực quan trọng trong phát triển, nhất là khi chúng ta xem con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển. Thời gian tới, Bộ sẽ rà soát toàn bộ các cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy doanh nghiệp tham gia trên cơ sở đảm bảo hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp nhà nước và người sử dụng, chú trọng đến các chính sách về vốn, về thuế. Một số lĩnh vực nhà nước, ngân sách nhà nước sẽ chịu trách nhiệm đảm bảo hoàn toàn nhưng có những lĩnh vực, ngành nghề nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, chủ yếu đóng vai trò là vốn mồi để huy động các lực lượng của xã hội. Đồng thời, tiến hành hỗ trợ cho doanh nghiệp một số vấn đề như năng lực đào tạo, năng lực dự báo, triển khai nền tảng số về thông tin thị trường lao động để doanh nghiệp chủ động lựa chọn phương án đào tạo và quyết định hỗ trợ lao động, hỗ trợ các nền tảng dạy học trực tuyến… Theo hướng này, 5 năm tới ngành lao động cũng như hệ thống giáo dục nghề nghiệp phải có sự lột xác thật sự.

Đối với kiến nghị ban hành sách trắng, theo Bộ trưởng, hàng năm Tổng cục Thống kê đưa ra bản tin thị trường lao động hàng quý nhưng hầu như các bản tin này đi chậm so với sự biến động của thị trường lao động. Ngành Lao động cũng đưa ra thông báo, thông tin cập nhật hàng quý về công bố các ấn phẩm về lao động việc làm, tuy nhiên việc này cũng đang chậm. Thời gian tới, trong Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025, Bộ đề xuất phối hợp với Tổng cục Thống kê và các đơn vị liên quan xây dựng và công bố các ấn phẩm về lao động việc làm, xây dựng bản đồ việc làm và nghề nghiệp, dự kiến sẽ triển khai từ năm 2002.

08:37

Chuyển hướng đào tạo trong cuộc cách mạng 4.0

Trả lởi chất vấn của ĐBQH Nguyễn Thị Lan Anh (Lào Cai) về các chính sách trung tâm, chương trình chuẩn bị lực lượng lao động và chuyển hướng đào tạo trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư như thế nào, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết, chuyển đổi số trong thời gian tới có thể làm mất đi nhiều việc làm của người lao động nhưng chắc chắn sẽ mở ra những cơ hội mới nếu chúng ta biết tận dụng. Vì vậy, Bộ sẽ tập trung vào các giải pháp quan trọng, cơ bản sau.

Một là, chú trọng nâng cao chất lượng dự báo ngắn hạn, trung hạn và dài hạn về nhu cầu nhân lực, làm cơ sở để điều tiết và đào tạo, bồi dưỡng.

Hai là, bổ sung các quan sát, đánh giá cụ thể theo từng ngành nghề, lĩnh vực, sự khác biệt cần thiết trong bối cảnh tác động của cách mạng công nghiệp 4.0. Tiếp đó đẩy mạnh thu hút và tập trung nguồn lực để thúc đẩy đào tạo và đào tạo lại, nâng cao kỹ năng tay nghề cho người lao động.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện, rà soát lại các cơ chế, chính sách trong phát triển giáo dục nghề nghiệp, nhất là chinh sách thúc đẩy liên kết ba nhà: nhà nước, doanh nghiệp và nhà trường.

Bốn là, nhấn mạnh các kỹ năng cốt lõi, kỹ năng mềm, kỹ năng số, kỹ năng ngoại ngữ, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp thể hiện ngay từ khâu đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo. Phát triển chương trình, tổ chức đào tạo, kiểm tra, đánh giá. Năm là có chính sách hỗ trợ các cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và người lao động khi tham gia đào tạo lại, đào tạo nâng cao chuyên môn, kỹ năng để chuyển đổi công việc đáp ứng yêu cầu. Mở rộng đối tượng bao gồm hỗ trợ bao gồm cả người lao động thất nghiệp, người lao động có nguy cơ thất nghiệp cao từ các nguồn kinh phí, các quỹ hợp pháp và các nguồn vốn sự nghiệp.

08:40

Giải pháp nào cải thiện đời sống của người lao động?

ĐBQH Trần Quốc Tuấn (Trà Vinh) cho rằng, dịch Covid-19 đã làm đứt gãy quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động là rất rõ, nhưng càng thấy rõ hơn là khả năng tích lũy tiết kiệm của người lao động hiện nay là khá thấp, thể hiện qua những ngày sau giãn cách xã hội. Thu nhập của người lao động không cao, từ đó đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống, sinh hoạt và khả năng tái tạo sức lao động cho chính bản thân người lao động. Đây cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến năng suất lao động, vốn được xem là yếu tố quan trọng đóng góp vào tốc độ tăng trưởng kinh tế. Bộ trưởng có giải pháp gì cho trước mắt và lâu dài trong việc nâng cao thu nhập và khả năng tích lũy cho người lao động, để người lao động thật sự trở thành người công nhân khá giả, góp phần nâng cao năng suất lao động, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước trong thời gian tới?

Về vấn đề này, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho rằng, việc cải thiện đời sống của người lao động phụ thuộc vào hai vấn đề lớn là năng suất lao động và đời sống, điều kiện sản xuất kinh doanh, phát triển của doanh nghiệp và chủ sử dụng lao động.

Trên cơ sở đó, Bộ trưởng đưa ra một số giải pháp. Thứ nhất, phải nhanh chóng tập trung đào tạo và đào tạo lại, nâng cao tay nghề, kỹ năng cho người lao động và ngay cả nâng cao kỹ năng đàm phán của người lao động với chủ sử dụng lao động. 

Thứ hai, Bộ đề xuất, thống nhất với Tổng Liên đoàn Lao động tăng cường vai trò, chức năng tổ chức đại diện cho người lao động để bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người lao động.

Thứ ba, xây dựng các tiêu chí, quy định rà soát, sửa đổi các quy định hiện hành nhằm bảo vệ quyền lợi cho người lao động nhưng cũng phải mở đường để phát triển sản xuất, tạo điều kiện cho chủ sở hữu động thu hút lực lượng lao động, tăng năng suất lao động để tăng thu nhập cho người lao động.

Thứ tư, sẽ tiến hành quy hoạch lại một số ngành nghề cùng với các địa phương. Gần đây, Thủ tướng Chính phủ đã trực tiếp chỉ đạo sẽ tiến hành việc quy hoạch lại một số ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn, khu chế xuất và ứng dụng khoa học kỹ thuật và một số ngành nghề thâm dụng lao động cao.

Thứ năm, điều tiết lao động, nhất là lực lượng lao động thâm dụng, lao động phổ thông thu nhập thấp có thể tăng cường, điều chỉnh hoặc chuyển đổi sang một số lĩnh vực, ngành nghề phù hợp hơn, có thu nhập tốt hơn. 

08:43

Lương được xác định dựa trên giá cả sức lao động

ĐBQH Nguyễn Duy Minh (Đà Nẵng) chất vấn về tình trạng có nơi người sử dụng lao động áp dụng bằng hoặc cao hơn không đáng kể so với mức tiền lương tối thiểu vùng, dẫn đến người lao động gặp khó khăn trong cuộc sống, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung ghi nhận và có giải trình. Cụ thể, Bộ trưởng cho biết, theo tinh thần Nghị quyết 27 của Trung ương về cải cách chính sách tiền lương thì sẽ thực hiện từ 1.7.2021. Tuy nhiên, do tình hình dịch bệnh nên Bộ đã báo cáo với Chính phủ cho phép lùi việc thực hiện cải cách chính sách tiền lương khu vực doanh nghiệp.

Bộ trưởng thông tin thêm, hiện nay Bộ đang tiến hành làm thí điểm ở 3 tập đoàn việc áp dụng chính sách cải cách chính sách tiền lương khu vực doanh nghiệp. Trên cơ sở rút kinh nghiệm, sẽ triển khai trên quy mô cả nước và theo tinh thần lương được xác định trên giá cả và sức lao động. Đây là thay đổi căn bản trong chính sách thời gian tới.

Chính vì giá cả, sức lao động nên chủ lao động phải trả lương theo nguyên tắc thị trường và trên cơ sở có sự can thiệp chừng mực của Nhà nước, đề cao vai trò tự chủ của người sử dụng lao động. Về mức lương tối thiểu vùng, doanh nghiệp và chủ sử dụng lao động sẽ là người quyết định thang bảng lương, đây là thay đổi căn bản vì nhà nước sẽ không quy định thang bảng lương nữa. Người lao động và chủ sử dụng lao động sẽ là người thỏa thuận về mức lương thu nhập dựa trên cơ sở ba căn cứ: Sự phát triển của doanh nghiệp, thu nhập phúc lợi của người lao động và dựa trên cơ sở là mức lương tối thiểu vùng. Mức lương tối thiểu vùng là mức sàn tối thiểu Nhà nước đặt ra bắt buộc các doanh nghiệp chủ sử dụng lao động không thể trả mức lương thấp hơn. Nếu thấp hơn tức là vi phạm, còn cao hơn mức đó thì đương nhiên là hai bên thỏa thuận. Người người lao động có quyền chấp nhận hay không chấp nhận khi thỏa thuận này không đáp ứng nhu cầu...

08:46

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng: Đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp cần tích tụ đất đai nhưng còn nhiều bất cập, rủi ro cao, lợi nhuận thấp

Về thu hút đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp, để nông dân “ly nông chứ không ly hương”, giải quyết các lao động trở về quê, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho rằng, để giải quyết tất cả những vấn đề này, điều quan trọng nhất là có thu hút được đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn hay không. Chủ trương này liên quan đến quy hoạch; hạ tầng, đất đai, giải phóng mặt bằng;  thủ tục hành chính, môi trường đầu tư; đào tạo nguồn nhân lực; thu hút đầu tư và công tác xúc tiến đầu tư; thi hành, thực hiện tốt các chính sách...

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng phát biểu

Ảnh: Quang Khánh 

Kết quả thực hiện chủ trương trên còn hạn chế. Đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp cần tích tụ đất đai nhưng còn nhiều bất cập, rủi ro cao, lợi nhuận thấp, chính sách chưa thực sự phù hợp.

Đơn cử như chính sách để nhà đầu tư tham gia hỗ trợ hạ tầng, nhưng sau đó đã giao lại cho các địa phương. Các tỉnh, thành do điều kiện khác nhau chưa bố trí được nguồn lực cho dự án. Giai đoạn 2021-2025, trong kế hoạch đầu tư công trung hạn, chỉ 24 địa phương hỗ trợ hạ tầng cho nông nghiệp, với tổng đầu tư 300 tỷ đồng. "Đây là con số rất nhỏ", Bộ trưởng nói.

Chính phủ cũng đang chỉ đạo điều chỉnh lại Nghị định 57 về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn theo hướng mở rộng đối tượng, mở rộng nguồn đầu tư. Về định hướng, theo Bộ trưởng Dũng, đối với thành phố lớn "có lẽ không nên tiếp cận dự án có hạ tầng công nghệ thấp mà tập trung vào dịch vụ, tài chính có hàm lượng công nghệ cao hơn". Việc triển khai các vấn đề này cần sự hỗ trợ của Trung ương và nỗ lực của địa phương.

Bộ trưởng lấy ví dụ về định hướng đầu tư, đối với các thành phố như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh không nên tiếp cận những dự án có hàm lượng công nghệ thấp, có giá trị gia tăng thấp mà nên tập trung chuyển sang lĩnh vực dịch vụ, tài chính, có hàm lượng công nghệ, có giá trị gia tăng cao hơn. Mặt khác, cần nghiên cứu phát triển mô hình phù hợp giúp các địa phương khác tận dụng cơ hội và  tiếp cận tốt hơn để phát triển bền vững dựa trên tiềm năng sẵn có.

Bộ trưởng cho rằng, ngoài ngân sách Trung ương, các bộ ngành, cần chung tay đầu tư cho nông nghiệp bằng chính nguồn vốn của mình hoặc hỗ trợ thông qua hỗ trợ lãi suất, các tổ chức tín dụng cũng có thể cùng tham gia. Hiện nay, Bộ đang lấy ý kiến lần cuối và trình Thủ tướng Chính phủ để sớm phê duyệt Nghị định 57 để làm nền tảng để thu hút các nguồn đầu tư cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp. Đây là có thể là giải pháp đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới.

08:50

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam: Hai vấn đề người lao động lo ngại nhất khi quay lại nhà máy

Cùng tham gia trả lời, làm rõ hơn các vấn đề chất vấn mà ĐBQH nêu, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cho biết, qua các đợt dịch Covid-19, rất nhiều vấn đề đã bộc lộ ra thông qua làn sóng người dân từ các thành phố lớn chuyển về quê, chẳng hạn như vấn đề nhà ở của công nhân, người lao động nhập cư; vấn đề đào tạo nghề… Đặc biệt, vấn đề người dân và các địa phương quan tâm nhất, cần giải quyết ngay lúc này là số lượng 1,3 triệu người dịch chuyển từ thành phố về quê mà Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã nêu ra, xem lượng lao động này nằm ở khu vực nào, giải pháp ra sao để kéo họ trở lại làm việc.

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu

Ảnh: Quang Khánh 

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam phân tích, với những người lao động có hợp đồng lao động, làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất thì hầu hết vẫn được trả một phần lương khi nghỉ dịch nên hiện tại xu hướng trở lại nhà máy tương đối tốt. Tuy nhiên, đối tượng lao động ngắn hạn, thời vụ, làm việc ở công trình nhỏ không biết bao giờ quay trở lại. Trong khi đó, số lao động tự do, như ở TP. Hồ Chí Minh rất lớn, hầu hết không có hợp đồng, tự vào làm việc và đối tượng đi theo như người trông con, cháu… cũng khó nắm bắt.

Về giải pháp, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam khẳng định, có 2 vấn đề lớn cần giải quyết, cũng là 2 vấn đề mà người lao động lo ngại nhất.

Đầu tiên, phải kiểm soát dịch Covid-19 cho tốt vì người lao động sợ nhất là quay lại thành phố, quay lại nhà máy rồi nhưng sau đó lại bị phong tỏa, họ lại phải tìm cách đối phó, trở về nhà. Thực tế qua đợt dịch cho thấy, đời sống những người lao động bị mắc kẹt lại thành phố rất khổ.

Thứ hai, phải mở lại trường học, nhất là với cấp mẫu giáo và tiểu học, vì đa phần công nhân có con nhỏ. Phó Thủ tướng nhấn mạnh, việc mở lại trường học không chỉ là vấn đề giáo dục mà còn giải quyết vấn đề lao động.

Điều quan trọng hơn là về lâu dài, phải chăm sóc căn cơ cho người lao động, nếu dịch có trở lại thì người lao động vẫn phải được đảm bảo một phần tiền lương đủ cho cuộc sống.

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cho biết, tới đây, Trung ương cần rà soát tất cả quy định về phòng chống dịch sao cho an toàn và không quá phức tạp, đặc biệt là việc xét nghiệm, xử lý F1, F0 trong doanh nghiệp sao cho hiệu quả. “Việc này rất cần sự phối hợp của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cũng phải lo cho công nhân chứ đừng đưa hết trách nhiệm về phía chính quyền” – Phó Thủ tướng nói.

08:55

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ: Tổ chức Lễ tưởng niệm đồng bào tử vong và các cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh do đại dịch Covid-19 bằng hình thức trực tuyến

Phát biểu kết luận phần chất vấn và trả lời chất vấn của Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nhấn mạnh, vấn đề lao động việc làm, vấn đề xã hội nói chung, nhất là trong điều kiện bị tác động nặng nề do Covid-19, những định hướng, giải pháp để giảm thiểu thiệt hại; hỗ trợ người lao động, người sử dụng lao động vượt qua khó khăn, phục hồi và phát triển thị trường lao động, góp phần phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội là những vấn đề bức thiết, thu hút sự quan tâm sâu sắc của đại biểu Quốc hội, nhân dân và cử tri cả nước.

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ phát biểu kết luận chất vấn

Ảnh: Lâm Hiển 

Tại phiên chất vấn, Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung chiều qua và sáng nay đã có 32 đại biểu đăng ký chất vấn, 1 ý kiến tranh luận. Phiên chất vấn diễn ra sôi nổi, cơ bản bám sát nội dung chủ đề đã đặt ra, có trọng tâm, trọng điểm với tinh thần thẳng thắn, khách quan, xây dựng và trách nhiệm rất cao đối với đồng bào và cử tri cả nước.

Các đại biểu nêu câu hỏi chất vấn đúng và trúng, nội dung ngắn gọn, súc tích, đi thẳng vào những vấn đề nóng bỏng của cuộc sống mà người dân, lao động và người sử dụng lao động đang rất quan tâm. Trong nhiệm kỳ thứ hai của mình, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung nắm chắc tình hình, thực trạng, vấn đề thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ, đã trả lời đầy đủ, thẳng thắn và thỏa đáng, đề xuất nhiều giải pháp cụ thể cho thời gian tới.

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư đã tiếp thu, giải trình thêm những ý kiến đại biểu Quốc hội quan tâm qua phần chất vấn đã tập trung và làm rõ thêm những vấn đề cơ bản sau đây.

Thứ nhất, dịch Covid-19, nhất là đợt bùng phát từ ngày 27.4 đến nay đã tác động nghiêm trọng đến sản xuất, kinh doanh, sinh kế, việc làm và đời sống của người dân, doanh nghiệp. Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, trong đó có phần trách nhiệm quản lý nhà nước, hơn 1,3 triệu người dân đã nhiều đợt rời bỏ TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh kinh tế trọng điểm phía Nam về quê. Quốc hội đề nghị Chính phủ, các thành viên Chính phủ cần phân tích, đánh giá làm rõ nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan, đồng thời có giải pháp tổng thể để phục hồi, phát triển thị trường lao động trong cả nước, chú trọng giải quyết tình trạng thiếu hụt lao động tại các vùng kinh tế trọng điểm, giải quyết việc làm cho người lao động của các tỉnh, thành khác trong cả nước khi mà người lao động đã trở về quê.

Thứ hai, tiếp tục đẩy nhanh triển khai các gói hỗ trợ an sinh xã hội, hỗ trợ lao động và người lao động bảo đảm cho mọi người được tiếp cận thuận lợi nhất, nhanh nhất. Tăng cường kiểm tra, xử lý các hành vi tiêu cực, trục lợi chính sách đồng thời tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các gói hỗ trợ thiết thực, khả thi đặt trong tổng thể Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định, trong đó lưu ý các vấn đề về bình đẳng giới, hỗ trợ người lao động nữ, lao động nhập cư, lao động tự do trong khu vực phi chính thức là những người yếu thế trong xã hội. Lưu ý các chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra trong việc thích ứng và thực hiện một số các mô hình sản xuất trong điều kiện đại dịch như những ý kiến đại biểu đã nêu.

Thứ ba, tăng cường công tác bảo vệ quyền trẻ em, đặc biệt là bảo trợ xã hội đối với trẻ em mồ côi do dịch Covid-19, tuyệt đối không để các em bị bỏ rơi, không nơi nương tựa. Tiếp tục tăng cường phòng, chống xâm hại trẻ em, nâng cao trách nhiệm, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với công tác trợ giúp xã hội và công tác thiện nguyện. Chính phủ chỉ đạo Bộ Công an, các địa phương khẩn trương làm rõ vấn đề dư luận quan tâm và dị nghị, xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân nếu có sai phạm và tiêu cực trong lĩnh vực này, đồng thời tiếp tục hoàn thiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

Thứ tư, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội quan tâm giải quyết những vấn đề quan trọng, bức xúc như đổi mới hệ thống giáo dục nghề nghiệp, chính sách xã hội hóa về bảo trợ xã hội, tình trạng người lao động bán sổ bảo hiểm xã hội, chính sách tiền lương đối với những nhóm đối tượng có mức lương thấp, nghỉ hưu trước năm 1995, triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững… đặt trong bối cảnh tác động nặng nề của dịch Covid-19.

Thứ năm, đề nghị Chính phủ trước thực trạng lao động hiện nay do tác động của đại dịch Covid-19 chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương nghiên cứu tổng thể việc sắp xếp, phân bố lại dân cư, lao động trong phạm vi cả nước gắn với xây dựng, bảo đảm nhà ở, cơ sở vật chất, các thiết chế y tế, giáo dục, văn hóa cho người lao động nhằm phát triển thị trường lao động bền vững, tiếp tục củng cố quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp.

Tại phiên chất vấn và trả lời chất vấn hôm nay, tôi xin phép thay mặt Ủy ban Thường vụ Quốc hội báo cáo với Quốc hội, lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã có chủ trương giao Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với TP. Hồ Chí Minh và các địa phương có liên quan tổ chức Lễ tưởng niệm đồng bào tử vong và các cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh do đại dịch Covid-19 tại TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam bằng hình thức trực tuyến kết nối với một số tỉnh, thành phố. Đây là vấn đề mà một số đại biểu Quốc hội đã có quan tâm đề xuất trong phiên họp này.

Đề nghị Chính phủ, trực tiếp là Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP. Hồ Chí Minh và các địa phương để tổ chức thật tốt lễ tưởng niệm.