Quốc hội thảo luận trực tuyến dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ 

Xem với cỡ chữ
Chiều 26.10, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội thảo luận trực tuyến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ. Báo ĐBND tường thuật trực tiếp ý kiến đóng góp của đại biểu Quốc hội vào dự án luật. Trân trọng mời bạn đọc theo dõi!
14:09

Điểm cầu Nhà Quốc hội

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định điều hành phiên họp chiều 26.10

Ảnh: Quang Khánh

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định phát biểu
Ảnh: Quang Khánh

Quốc hội thảo luận trực tuyến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ 

Ảnh: Quang Khánh

Ảnh: Quang Khánh 

 

14:10

Điểm cầu tỉnh Phú Thọ: Đoàn ĐBQH thảo luận trực tuyến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ

Các ĐBQH tại phiên thảo trực tuyến tại điểm cầu Đoàn ĐBQH tỉnh Phú Thọ chiều 26.10
Ảnh: Huy Thắng

 

14:17

Điểm cầu tỉnh Vĩnh Phúc: Đoàn ĐBQH thảo luận trực tuyến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ

Các ĐBQH tại phiên thảo trực tuyến tại điểm cầu Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Phúc chiều 26.10
Ảnh: Trọng Hiếu

14:45

Điểm cầu tỉnh Thái Nguyên: Nền tảng vững chắc để Việt Nam tham gia “cuộc chơi” quốc tế

ĐBQH Nguyễn Công Hoàng phát biểu ý kiến tại điểm cầu Đoàn ĐBQH tỉnh Thái Nguyên

Phát biểu ý kiến tại điểm cầu Đoàn ĐBQH tỉnh Thái Nguyên, ĐBQH Nguyễn Công Hoàng (Thái Nguyên) đánh giá, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ tương đối cụ thể, sát với yêu cầu thực tế và có ý nghĩa rất quan trọng đối với Việt Nam khi tham gia các hiệp định thương mại tự do CPTPP, EVFTA; tạo nền tảng cơ sở vững chắc để Việt Nam tham gia “cuộc chơi” với quốc tế, để chúng ta không bị thua thiệt có thể bước vào sân chơi này.

Tuy nhiên, đại biểu Hoàng cũng bày tỏ băn khoăn với một số quy định trong dự thảo Luật. Trong đó, vấn đề thứ nhất còn ý kiến khác nhau được Chính phủ xin ý kiến Quốc hội về quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, kết quả khoa học công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước, đại biểu lựa chọn phương án 1 giao quyền đăng ký cho tổ chức chủ trì một cách tự động và không bồi hoàn, tổ chức chủ trì có quyền sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí khi được cấp văn bằng bảo hộ, trừ các đối tượng thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh vẫn do các cơ quan nhà nước thực hiện đăng ký. Phương án thỏa mãn được mục tiêu đổi mới sáng tạo trong nghiên cứu khoa học của nước ta, đồng thời “cởi trói” cho chủ nhiệm các đề tài, nhiệm vụ khoa học, đưa các kết quả khoa học và thực tiễn.

Về xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, đại biểu Hoàng chọn phương án 2: giữ nguyên quy định hiện hành. Ông cho rằng, quy định xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm vừa giúp giải quyết được ngay các hành vi vi phạm vừa giúp giải quyết nhanh các hành vi vi phạm, đồng thời tạo tiền đề cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự. Từ đó, việc quy định xử phạt vi phạm hành chính không làm triệt tiêu quyền khởi kiện dân sự của chủ thể quyền.

Nêu quan điểm về một số vấn đề cụ thể, đại biểu Hoàng cũng chỉ rõ một số quy định trong dự thảo Luật chưa tương thích với luật pháp quốc tế, soạn thảo, đề nghị xem xét, làm rõ quy định về tên miền tại khoản 61 Điều 1. Bên cạnh đó, dự thảo Luật có vẻ như chưa thực sự tuân thủ theo điều 1828/CTTPP yêu cầu một số chính sách giải quyết tranh chấp tên miền giữa UDRP gồm 3 điều kiện.

Đại biểu cũng chỉ ra nhóm quy định trong dự thảo Luật có thể gây trở ngại cho quá trình áp dụng thực tiễn; đề nghị xem xét lại quy định sửa đổi khoản 1, Điều 151; khoản 69, Điều 1 của dự thảo Luật và quy định bổ sung khoản 2a của Điều 155,  khoản 72 của Điều 1 dự thảo Luật về các điều kiện được cấp chứng chỉ hành nghề dịch vụ, đại diện sở hữu công nghiệp đối với lý do quy định cho phép người đã có chứng chỉ hành nghề luật sư không cần phải thi tuyển có thể được hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp là chưa hợp lý. Quy định như vậy sẽ làm giảm tính chất của đại diện sở hữu công nghiệp, bởi lĩnh vực này là lĩnh vực khó, kể cả các luật sư đã có chứng chỉ hành nghề nhưng không kiểm tra năng lực thì cũng khó có thể đảm bảo được, đáp ứng được.

Nhóm quy định về bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, đại biểu Hoàng đề nghị xem xét lại quy định về trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian khoản 8, Điều 1, bổ sung Điều 198b do chưa phù hợp với luật pháp và thương mại điện tử. Bởi lẽ quy định của Điều 198b không buộc doanh nghiệp trung gian có nghĩa vụ rà soát, tiếp nhận khiếu nại vi phạm trên platform của họ khi chủ thể quyền thực hiện thủ tục thông báo cắt bỏ một số nội dung vi phạm. Quy định như vậy vẫn chưa thống nhất về quy định của Điều 36 Nghị định số 52 năm 2013 về thương mại điện tử.

PV Xuân Tùng

15:13

Điểm cầu tỉnh Thái Bình: Không xử lý vi phạm hành chính một số hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, có dẫn đến khoảng trống pháp lý?

Phát biểu tại điểm cầu Đoàn ĐBQH tỉnh Thái Bình, ĐBQH Nguyễn Văn Huy cho rằng, nội dung dự thảo Luật bảo đảm phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân về quyền sở hữu, quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó, quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa; về chính sách phát triển khoa học và công nghệ, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Đại biểu Huy cũng cơ bản nhất trí với các nội dung được đề cập tại Tờ trình số 358 của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra số 218 của Uỷ ban Pháp luật.

ĐBQH Nguyễn Văn Huy phát biểu từ điểm cầu Đoàn ĐBQH tỉnh Thái Bình

Đại biểu tỉnh Thái Bình tán thành việc sửa đổi quy định theo hướng trao quyền đăng ký sáng chế kiểu dáng công nghiệp, thiết kế, bố trí kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ có sử dụng toàn bộ ngân sách nhà nước hoặc một phần ngân sách cho tổ chức chủ trì nhiệm vụ đó một cách tự động và không bồi hoàn. Tổ chức chủ trì có quyền sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế, bố trí khi được cấp văn bằng bảo hộ và trừ các đối tượng thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh quốc gia. Bên cạnh đó, ông cũng đề nghị Chính phủ tiếp tục rà soát, hoàn thiện theo hướng bổ sung, làm rõ cơ chế phân chia hợp lý lợi ích giữa Nhà nước, cơ quan chủ trì và tác giả để thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, nghiên cứu mở rộng cơ chế giao quyền sở hữu tương tự đối với loại giống cây trồng, một số đối tượng quyền tác giả và quyền liên quan để khắc phục sự không thống nhất giữa quy định về quyền đăng ký sở hữu đối với kết quả nhiệm vụ khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước trong các luật hiện hành.

Về xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, đại biểu Huy nhận thấy, việc quy định không áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với sáng chế kiểu dáng công nghiệp, thiết kế, bố trí, tên thương mại, bí mật kinh doanh và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh là không phù hợp vì điều này sẽ dẫn đến khoảng trống pháp luật trong việc kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Và điều này cũng làm tăng thêm gánh nặng cho hệ thống tòa án hiện đang quá tải cũng như tạo thêm thách thức cho đương sự khi sử dụng các biện pháp tố tụng dân sự.

Đại biểu Huy cũng đề nghị sửa đổi một số Quy định về quyền đăng ký nhãn hiệu tại Điều 87 Luật Sở hữu trí tuệ cho phù hợp hơn, cụ thể:

Theo quy định tại khoản 2, Điều 87 của Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động thương mại hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm mà mình đưa ra thị trường nhưng do người khác sản xuất với điều kiện người sản xuất không sử dụng nhãn hiệu đó cho sản phẩm và không phản đối việc đăng ký đó”. Quy định như trên về quyền đăng ký nhãn hiệu của tổ chức hoạt động thương mại là chưa hợp lý, chưa rõ ràng, vì chỉ xét đến nhãn hiệu của nhà sản xuất mà không tính đến trường hợp tổ chức thương mại đăng ký nhãn hiệu tương tự với nhãn hiệu của nhà sản xuất. Trên thực tế công ty thương mại có thể đặt sản xuất sản phẩm cho mình và sản phẩm đó mang nhãn hiệu riêng của công ty thương mại, do vậy, quyền đăng ký nhãn hiệu này thuộc về công ty thương mại mà không cần phải có sự khước từ quyền đăng ký nhãn hiệu của nhà sản xuất. Trường hợp công ty thương mại nộp đơn đăng ký nhãn hiệu của nhà sản xuất thì phải được điều chỉnh bằng quy định về nộp đơn không trung thực theo khoản 3 Điều 96 Luật Sở hữu trí tuệ. Do đó đề nghị sửa đổi khoản 2 Điều 87 thành: “Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động thương mại hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm mà mình đưa ra thị trường nhưng do người khác sản xuất với điều kiện người sản xuất không sử dụng nhãn hiệu đó cho sản phẩm”.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 87 của Luật Sở hữu trí tuệ: “Tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, nguồn gốc hoặc tiêu chí khác liên quan đến hàng hóa, dịch vụ có quyền đăng ký nhãn hiệu chứng nhận…”. Với quy định này, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được cho là đáp ứng điều kiện để đăng ký nhãn hiệu chứng nhận, đặc biệt là nhãn hiệu chứng nhận nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương vì có trong tay bộ máy với đầy đủ các cơ quan chuyên môn có khả năng kiểm soát, chứng nhận các đặc tính, chất lượng của hàng hóa, dịch vụ. Tuy nhiên, trên thực tế đã phát sinh một số vướng mắc, bất cập liên quan đến việc phân định thẩm quyền quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ của UBND với quyền sở hữu, quản lý nhãn hiệu chứng nhận mà UBND là chủ sở hữu vì UBND cùng một lúc giữ hai vai trò quản lý nhà nước và chủ sở hữu quản lý tài sản. Tất cả các vấn đề này cần được thống nhất cách hiểu và áp dụng pháp luật giữa các cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là giữa Bộ Tư pháp với Bộ Khoa học và Công nghệ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để bảo đảm quyền lợi cho các chủ thể sản xuất các đặc sản địa phương, tăng cường bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam. Do đó đề nghị sửa đổi khoản 4 Điều 87 thành: “Tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, nguồn gốc hoặc tiêu chí khác liên quan đến hàng hóa, dịch vụ không phải là UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quyền đăng ký nhãn hiệu chứng nhận với điều kiện không tiến hành sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ đó”.

PV Khánh Duy

15:15

Điểm cầu tỉnh Phú Yên: Phát huy tốt nhất sức sáng tạo trong phát triển các ngành công nghiệp

Cơ bản thống nhất cao với dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ trên cơ sở kế thừa những ưu điểm, khắc phục điểm hạn chế và bổ sung các điều, khoản phù hợp và đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước và hội nhập quốc tế, ĐBQH Dương Bình Phú (Phú Yên) nêu quan điểm về 5 vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện trong dự thảo Luật.

Làm rõ chính sách về quyền tác giả

Về bảo hộ chỉ dẫn địa lý, đại biểu Phú chỉ rõ, bảo hộ chỉ dẫn địa lý được coi là một trong những công cụ hữu hiệu để khẳng định vị thế, đồng thời góp phần nâng cao giá trị cho nông sản Việt trên thị trường quốc tế, phục vụ tích cực cho việc xuất khẩu. Do vậy, vấn đề đặt ra cho các tỉnh/thành phố trên cả nước là quản lý làm sao cho hiệu quả để thực sự nâng cao được giá trị của chỉ dẫn địa lý được bảo hộ.

Hiện nay, quy định về quản lý các chỉ dẫn địa lý chưa cụ thể. Ví dụ, ở địa phương thì cơ quan nào, tổ chức nào quản lý là phù hợp nhất, bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người dân? Luật đã quy định quyền sở hữu chỉ dẫn địa lý thuộc về nhà nước và nhà nước giao quyền quản lý cho địa phương, nhưng ở địa phương thì UBND hoặc Hiệp hội ngành nghề sẽ được giao quyền quản lý. Bảo hộ chỉ dẫn địa lý là nhằm thêm cơ hội gia tăng giá trị sản phẩm, góp phần phát triển kinh tế địa phương, nhưng Cơ quan quản lý nào cũng đều có những bất cập nhất định. Vì vậy, đại biểu Phú đề nghị, khi đã giao quyền quản lý, thì văn bản quy định chi tiết của Chính phủ phải quy định rõ cơ chế quản lý để kiểm soát chất lượng, quy trình, rồi cách thức sử dụng chỉ dẫn địa lý.

ĐBQH Dương Bình Phú phát biểu tại điểm cầu Đoàn ĐBQH tỉnh Phú Yên

Ảnh: Quang Khánh 

Về bảo hộ quyền tác giả cần phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam, để phát huy tốt nhất sức sáng tạo của mọi người trong quá trình phát triển các ngành công nghiệp. Do đó, cần làm rõ chính sách về quyền tác giả trong bối cảnh “nâng cao hiệu quả thực thi quyền SHTT”, đặc biệt là: mức độ và cách thức bảo hộ; bảo đảm quyền và lợi ích của cộng đồng (ví dụ như liên quan đến văn hóa truyền thống); đảm bảo khai thác hiệu quả đối tượng quyền tác giả tạo ra từ ngân sách.

Theo đại biểu Phú, cần có một chính sách mới được quy định cụ thể trong Luật Sở hữu trí tuệ về việc Nhà nước trực tiếp giao sở hữu một số đối tượng quyền tác giả là kết quả nghiên cứu từ kinh phí nhà nước cho tổ chức nghiên cứu, để các đối tượng này dễ dàng được khai thác và thương mại hóa. Do vậy ở Điều 8 Chính sách của Nhà nước về sở hữu trí tuệ, đại biểu đề nghị bổ sung chính sách đặc thù về quyền tác giả góp phần tạo điều kiện phát triển hai lĩnh vực về công nghệ thông tin và công nghiệp văn hóa một cách dễ dàng, thuận lợi, có tính định hướng cao hơn; đồng thời, bổ sung chính sách rõ ràng về các đối tượng quyền tác giả đã được tạo ra trước khi thực hiện chính sách “đổi mới”. Bên cạnh đó, cần có một chính sách mới của Nhà nước trực tiếp giao sở hữu một số đối tượng quyền tác giả là kết quả nghiên cứu từ kinh phí nhà nước cho tổ chức nghiên cứu, để các đối tượng này dễ dàng được khai thác và thương mại hóa.

Đại biểu Phú cũng cho biết, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) nhấn mạnh trường hợp truyền đạt đến công chúng “mỗi Bên phải quy định cho tác giả độc quyền cho phép hoặc cấm truyền đạt tới công chúng tác phẩm của mình, bằng phương tiện vô tuyến hoặc hữu tuyến, bao gồm cả việc phổ biến đến công chúng tác phẩm của mình theo cách mà công chúng có thể tiếp cận các tác phẩm này từ địa điểm và tại thời điểm do chính họ lựa chọn”. Trường hợp này, không được xem là sao chép tác phẩm. Tuy nhiên, sự giới hạn quyền truyền đạt đến công chúng cũng cần thiết phải được quy định chi tiết, rõ ràng hơn, bởi các trường hợp công bố, tiết lộ thông tin của tác phẩm hiện khá phổ biến, gây thiệt hại đến chủ thể có quyền đối với tác phẩm. Do vậy ở Điều 20 về quyền tài sản, đại biểu Phú đề xuất bổ sung thêm các dấu hiệu vi phạm quyền truyền đạt tác phẩm tới công chúng qua mạng internet bao gồm 2 đặc điểm: Có hành vi kiếm thu nhập từ các trang web, dịch vụ internet có dấu hiệu truyền đạt tác phẩm tới công chúng, kể cả hình thức tìm kiếm thu nhập gián tiếp, không sử dụng chính các tác phẩm bị xâm hại; Có hành vi truyền đạt các tác phẩm trái phép, hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp một cách đáng kể cho người sử dụng trang web, dịch vụ internet tiếp cận với các tác phẩm được truyền đạt trái phép.

Quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý không được chuyển giao

Việc nhấn mạnh yếu tố sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật để sáng tạo tác phẩm có thể dẫn đến những diễn giải sai lệch rằng người nào đầu tư tài chính, cở sở vật chất kỹ thuật để sáng tạo ra tác phẩm là tác giả; những người cùng đóng góp thời gian, tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật để tạo ra tác phẩm là đồng tác giả. Tác phẩm là một sản phẩm sáng tạo tinh thần, do đó, người đầu tư tài chính, cung cấp cơ sở vật chất kỹ thuật không thể coi là đồng tác giả, trừ khi họ là những người trực tiếp có hoạt động sáng tạo tác phẩm, thể hiện dấu ấn sáng tạo của cá nhân tác giả. Do vậy ở Điều 37 về chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả, đại biểu tỉnh Phú Yên đề nghị chỉnh sửa: “Tác giả là chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp tác phẩm được tạo ra theo nhiệm vụ hoặc theo hợp đồng quy định tại Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ”.

Ảnh: Quang Khánh 

Đối với nhãn hiệu tập thể, đại biểu Phú lưu ý, bất cứ tổ chức, cá nhân nào là thành viên của tổ chức tập thể đó đều có thể được trao quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể nếu có nguyện vọng sử dụng nhãn hiệu này và đáp ứng các điều kiện mà chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể đặt ra. Việc trao quyền sử dụng từ chủ sở hữu cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu về bản chất không thuộc trường hợp chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp. Khi được trao quyền sử dụng, các tổ chức cá nhân này chỉ được phép sử dụng mà không có quyền định đoạt đối với nhãn hiệu tập thể đó, dù là trao lại quyền sử dụng mà mình nhận được. Quyền này chỉ thuộc về chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể. Do đó, quy định tại khoản 2 Điều 142 là chưa thật phù hợp về bản chất đối với việc bảo hộ nhãn hiệu tập thể. Đại biểu Phú đề nghị sửa đổi khoản 1 như sau: “Quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, tên thương mại không được chuyển giao”; bãi bỏ khoản 2 “Quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể không được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể đó”.

PV Thanh Tâm

16:21

Điểm cầu tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: Trao tự chủ cho tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ

Phát biểu tại điểm cầu Đoàn ĐBQH tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đại biểu Dương Tấn Quân cho rằng, thực trạng về sử dụng, khai thác kết quả nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH-CN) là các đối tượng tài sản trí tuệ còn nhiều hạn chế, bất cập.

Về đăng ký đối tượng tài sản trí tuệ là kết quả của nhiệm vụ KH-CN, theo quy định Luật Sở hữu trí tuệ thì tổ chức, cơ quan Nhà nước được giao quyền chủ đầu tư đại diện nhà nước thực hiện đăng ký các đối tượng này và đứng tên trên văn bằng bảo hộ (cụ thể là các Sở KH-CN). Nhưng thực tế, các tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH-CN (các trường đại học, các viện nghiên cứu, các tổ chức KH-CN có chức năng) đứng tên đăng ký trên cơ sở điều khoản giao uỷ quyền đăng ký theo hợp đồng KH-CN và sau đó trở thành chủ văn bằng bảo hộ. Điều nay trái với quy định pháp luật.

ĐBQH Dương Tấn Quân phát biểu thảo luận
ĐBQH Dương Tấn Quân phát biểu tại điểm cầu Đoàn ĐBQH tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Đối với việc giao quyền, theo quy định của Luật Khoa học và công nghệ; Luật Quản lý, sử dụng tài sản công thì việc tổ chức chủ trì có thể thực hiện quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí sau khi được các cơ quan quản lý nhà nước giao quyền sở hữu, sử dụng kết quả nhiệm vụ KH-CN. Đại biểu Quân cho rằng, việc giao quyền được quy định chi tiết tại Điều 22 Nghị định 70/20018/NĐ-CP còn nhiều bất cập. Lấy dẫn chứng từ trường hợp tổ chức chủ trì là đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền sử dụng hoặc doanh nghiệp 100% vốn nhà nước được giao quyền sở hữu kết quả nhiệm vụ KH-CN theo quy định tại Điều 22 thì cũng không có cơ sở pháp lý để các chủ thể này đăng ký sáng chế, thiết kê bố trí là kết quả của nhiệm vụ KH-CN. Theo quy định Luật Sở hữu trí tuệ, tổ cổ chức, cơ quan nhà nước được giao quyền chủ đầu tư đại diện nhà nước thực hiện đăng ký.

Việc đánh giá các tài sản trí tuệ gặp nhiều khó khăn (mặc dù có quy định của pháp luật) vì định giá đối tượng này phức tạp, dẫn đến việc giao quyền sở hữu, quyền sử dụng, đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí hầu như chưa thực hiện được. Đại biểu Dương Tấn Quân nêu quan điểm, nếu không áp dụng được giao quyền, thì quy định luật yêu cầu phải giao cho cơ quan chủ trì, có thể áp dụng giải pháp ràng buộc bằng hợp đồng, buộc tổ chức phải nhận quyền sử dụng (nhưng không khai thác sử dụng).

Đối với việc khai thác thương mại tài sản trí tuệ, bất cập quy định hiện hành chưa thể thúc đẩy tổ chức chủ trì khai thác, phát huy hiệu quả giá trị đầu tư của Nhà nước. Quyền đăng ký sở hữu trí tuệ hạn chế, quy định giao quyền còn bất cập gây cản trở tổ chức chủ trì trong việc thương mại hoá, chuyển giao công nghệ. Đối với doanh nghiệp việc nhận thấy được giá trị của các nhiệm vụ KH-CN để tham gia đầu tư, hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học nhằm thương mại hoá nhưng chờ đợi việc đăng ký sở hữu trí tuệ quá lâu do thủ tục giao quyền rườm rà. Điều này dẫn đến có những tiềm năng không thể khai thác. Bên cạnh đó, mối quan hệ 3 bên giữa Nhà nước - Tổ chức chủ trì - Doanh nghiệp trong vấn đề đưa kết quả nghiên cứu KH-CN để thương mại hoá trí tuệ còn lỏng lẻo. Hệ quả có thể thấy, số lượng nhiệm vụ KH-CN có kết quả đăng ký sở hữu trí tuệ đã ít, số lượng kết quả nhiệm vụ KH-CN đăng ký sở hữu trí tuệ có thể thương mại hoá thành công còn ít hơn. Hoạt động chuyển giao công nghệ, hoạt động thương mại hoá hạn chế sẽ khiến Nhà nước mất đi các lợi ích, giá trị kinh tế. Do đó, đại biểu Dương Tấn Quân kiến nghị cần trao nhiều sự tự chủ hơn cho tổ chức chủ trì để họ có động lực khai thác, phát triển, bán hay sử dụng các kết quả nghiên cứu.

Đại biểu đề xuất sử dụng, khai thác kết quả nhiệm vụ KH-CN theo Phương án 1 Tờ trình 358/TTr-CP ngày 28.9.2021 là phù hợp. Tuy nhiên, đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc làm rõ hơn cơ chế phân chia lợi ích sau khi khai thác thương mại giữa các bên tham gia nhiệm vụ KH-CN gồm Nhà nước, tổ chức chủ trì và tác giả.

PV Nhật Trường

16:29

Điểm cầu tỉnh Đồng Tháp: Rà soát kỹ để luật sửa đổi có “tuổi thọ” lâu dài

Luật Sở hữu trí tuệ được ban hành năm 2005 và được sửa đổi bổ sung hai lần vào năm 2009, 2019. Tuy nhiên, trong thời gian qua, đã có những vấn đề mới, phát sinh trong quá trình hội nhập với thế giới trên tất cả các lĩnh vực có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của tổ chức cá nhân về sở hữu trí tuệ, về bảo hộ sở hữu trí tuệ và giải quyết tranh chấp dân sự, giải quyết các điểm nghẽn cản trở sự phát triển của đất nước. Do đó, ĐBQH Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp) tán thành sửa đổi, bổ sung Luật cho phù hợp với tình hình hiện nay, bảo đảm đồng bộ, thống nhất với các Luật có liên quan đã có hiệu lực thi hành, đã bất cập với Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi bổ sung hiện hành.

Đại biểu Quốc hội Phạm Văn Hòa tham gia thảo luận từ điểm cầu tỉnh Đồng Tháp

Có cơ chế phân chia lợi ích hợp lý 

Luật năm 2019 sửa đổi bổ sung chưa bảo đảm hành lang pháp lý đầy đủ và hiệu quả đối với việc bảo hộ khai thác và bảo vệ tài sản trí tuệ. Tuy nhiên, đại biểu Hòa đề nghị Chính phủ, nhất là Bộ Khoa học và Công nghệ quan tâm chuẩn bị kỹ nội dung sửa đổ bổ sung để Luật có tuổi thọ lâu dài, “nếu làm không kỹ 1 - 2 năm lại sửa đổi bổ sung sẽ tốn kém, gây dư luận không tốt trong dân”, ông Hòa nhấn mạnh.  

Về quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách Nhà nước, đại biểu Hòa tán thành phương án 1 “giao quyền đăng ký cho tổ chức chủ trì một cách tự động và không bồi hoàn, tổ chức chủ trì có quyền sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được cấp văn bằng bảo hộ” là phù hợp với thực tiễn và phát huy quyền của các tổ chức cá nhân được hưởng quyền lợi những gì mà mình phát minh, sáng kiến có lợi cho dân, cho Nhà nước, tạo động lực khuyến khích các tổ chức chủ trì đăng ký các xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với phần kết quả nghiên cứu có khả năng bảo hộ sở hữu công nghiệp và thúc đẩy thương mại hoá đối tượng quyền sở hữu công nghiệp đó. Tuy nhiên, đại biểu tỉnh Đồng Tháp đề nghị tiếp tục nghiên cứu phần đóng góp ngân sách cho kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ, có cơ chế phân chia hợp lý giữa chủ thể nghiên cứu với phần tham gia của nhà nước để có sự hài hoà lợi ích với nhau, phòng ngừa ngân sách nhà nước đầu tư cho khoa học công nghệ mà lợi ích lại thuộc về cá nhân, chủ thể khác là không hợp lý, không đúng theo Luật Ngân sách nhà nước.

Giữ quy định hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính 

Về xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, đại biểu Hòa nhận thấy theo phương án 1 về không áp dụng biện pháp hành chính đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, tên thương mại, bí mật kinh doanh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh mà xử lý bằng biện pháp dân sự là chưa thật sự thỏa đáng, như báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật đã chỉ ra. Ông đề nghị giữ nguyên quy định của Luật hiện hành về áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nhằm phát huy vai trò quản lý nhà nước trên lĩnh vực này và đề cao trách nhiệm của cơ quan chuyên môn trong việc phát hiện kịp thời hành vi vi phạm; mặt khác cũng góp phần giảm gánh nặng của tòa án trong tố tụng dân sự và chi phí cho bên khởi kiện, cũng có thể truy cứu trách nhiệm hình sự nếu bị xử phạt nhiều lần mà vẫn tái vi phạm.

Ảnh: Quang Khánh

Nêu quan điểm về một số vấn đề cụ thể khác, đại biểu tỉnh Đồng Tháp chỉ rõ, tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng tại Điều 75 “Tuỳ từng trường hợp mà một số hoặc tất cả các tiêu chí sau đây có thể được xem xét khi đánh giá một nhãn hiệu là nổi tiếng” là mang tính chất suy diễn hoặc theo ý kiến chủ quan của ai đó cho rằng đó là nhãn hiệu nổi tiếng hoặc là bình thường, chưa cụ thể, rõ ràng, dễ dẫn đến thiếu tính minh bạch. Do đó, cần rà soát lại cho thuyết phục. 

Về kiểm soát an ninh đối với sáng chế trước khi đăng ký ra nước ngoài tại Điều 89a, theo đại biểu Hòa, vẫn còn bất cập là chỉ kiểm soát “sản phẩm tạo ra toàn bộ ở Việt Nam” mà không áp dụng đối với sản phẩm được tạo ra một phần hay có sự đóng góp ít nhiều ở Việt Nam sẽ dẫn đến kẽ hở cho sự lợi dụng không qua sự kiểm soát của an ninh. Ông đề nghị sản phẩm tạo ra có sự đóng góp trong nước là phải qua kiểm soát an ninh.

PV Hoàng Ngọc

16:34

Điểm cầu tỉnh Bắc Kạn: Đáp ứng yêu cầu cấp thiết phát triển kinh tế - xã hội

Sở hữu trí tuệ (SHTT) là yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội vì tài sản trí tuệ có giá trị lớn trong nền kinh tế tri thức, là nguồn lực cho phát triển sản xuất kinh doanh và là công cụ cạnh tranh hiệu quả của doanh nghiệp và nền kinh tế. Nhấn mạnh điều này, thảo luận trực truyến từ điểm cầu Đoàn ĐBQH tỉnh Bắc Kạn, ĐBQH Hà Sỹ Huân ghi nhận, qua 16 năm thi hành, Luật Sở hữu trí tuệ đã phát huy vai trò trong việc điều chỉnh các quan hệ pháp luật đối với loại tài sản đặc biệt này.

Tuy nhiên, trước bối cảnh phát triển hiện nay đã có nhiều thay đổi so với năm 2005, Việt Nam không còn thuần túy là nước “sử dụng tài sản trí tuệ” mà đang chuyển mạnh sang là nước tạo ra tài sản này phục vụ cho mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, nên đại biểu nhất trí việc tiếp tục sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Về tác giả, đồng tác giả, dự thảo Luật quy định “Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học”. Theo đại biểu Huân, quy định tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm văn học nghệ thuật là hợp lý; còn đối với khoa học thì không thể dùng với thuật ngữ sáng tạo mà phải là nghiên cứu. Do đó cần định nghĩa rõ hơn nội dung này.

Về quyền nhân thân, quyền tài sản, dự thảo Luật chưa quy định rõ, cụ thể việc thực hiện các quyền nhân thân và tài sản của đồng tác giả với việc thực hiện quyền của tập thể tác giả. Do tác phẩm đồng tác giả là một tác phẩm chung không thể khai thác riêng lẻ theo từng phần nên quyền tác giả đối với tác phẩm đó là của chung các đồng tác giả. Việc thực hiện các quyền nhân thân hay tài sản của mỗi đồng tác giả sẽ liên quan hay bị ràng buộc với các đồng tác giả khác. Để có căn cứ cụ thể cho việc áp dụng, theo đại biểu Huân, dự thảo Luật cần bổ sung quy định: “Việc thực hiện các quyền nhân thân và tài sản đối với tác phẩm chung phải có sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các đồng tác giả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.

ĐBQH Hà Sỹ Huân phát biểu tại điểm cầu Đoàn ĐBQH tỉnh Bắc Kạn

Về quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí tại khoản 36 Điều 1 dự thảo Luật, đại biểu Huân nhất trí với phương án 1 và cho rằng, quy định như vậy sẽ tạo được động lực khuyến khích các tổ chức chủ trì đăng ký, xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với phần kết quả nghiên cứu có khả năng bảo hộ sở hữu công nghiệp và thúc đẩy thương mại hóa đối tượng quyền sở hữu công nghiệp đó; vẫn đảm bảo được sự quản lý của Nhà nước đối với kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ được bảo hộ sở hữu công nghiệp có sử dụng ngân sách. Đồng thời thống nhất giữa quy định về quyền đăng ký, sở hữu đối với kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước trong các luật hiện hành (Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công).

Về chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ, tại điểm g khoản 42 Điều 1, đại biểu Huân đề nghị bổ sung cụ thể hình thức tuyên bố của chủ văn bằng (bằng văn bản hay hình thức khác) về hủy bỏ quyền đối với trường hợp chấm dứt hiệu lực của văn bằng bảo hộ.

Về hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bị xử phạt vi phạm hành chính, đại biểu tỉnh Bắc Kạn đề nghị lựa chọn phương án 1: Biện pháp xử phạt hành chính chỉ áp dụng đối với các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, giống cây trồng; các hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, tên thương mại, bí mật kinh doanh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh sẽ không bị xử phạt hành chính mà chỉ bị xử lý bằng biện pháp dân sự. Phương án này đảm bảo tính hiệu quả, khả thi của quy định pháp luật và không làm ảnh hưởng đáng kể đến thực tiễn bảo vệ quyền SHTT của các chủ thể có quyền SHTT. Đồng thời giảm gánh nặng không cần thiết cho ngân sách nhà nước và phù hợp với định hướng “tăng cường vai trò của tòa án trong giải quyết các vụ việc về SHTT” đã được đề ra trong Chiến lược Sở hữu trí tuệ đến năm 2030 cũng như thực tiễn của các nước trên thế giới.

PV Khánh Duy

16:40

Điểm cầu Nhà Quốc hội: Bảo đảm hài hòa lợi ích Nhà nước, cơ quan chủ trì và tác giả

Nêu quan điểm về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ từ điểm cầu Nhà Quốc hội, ĐBQH Nguyễn Danh Tú (Kiên Giang) cho biết, Khoản 10 và Khoản 16, Điều 1 dự thảo Luật thể hiện chính sách về trường hợp giới hạn bản quyền tác giả, giới hạn quyền liên quan, bảo đảm không vi phạm quyền tinh thần của tác giả và quyền của tác giả được nhận thù lao phù hợp do cơ quan có thẩm quyền quy định trong trường hợp các bên không thỏa thuận được. Chính sách này vừa tạo điều kiện đẩy mạnh khai thác, phổ biến tác phẩm, góp phần bảo đảm quyền tiếp cận và hưởng thụ các giá trị văn hóa của công chúng, vừa bảo đảm quyền hưởng thù lao phù hợp của chủ sở hữu quyền tác giả. Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện Điều 26 và Điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ có vướng mắc trong trường hợp hai bên không thỏa thuận được tiền bản quyền. Dự thảo Luật quy định trong trường hợp chủ sở hữu quyền tác giả với bên sử dụng không thỏa thuận được tiền bản quyền, thì thực hiện theo quy định của Chính phủ hoặc khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật. Dự thảo Luật giao Chính phủ quy định về nội dung này. Tuy nhiên, đại biểu Tú chỉ rõ, nội dung này không thuộc trường hợp “hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá” quy định tại Điều 19 Luật Giá. Vì vậy, để bảo đảm tính thống nhất của pháp luật và để có cơ sở thực hiện quy định này, ông đề nghị cần thiết xem xét sửa đổi, bổ sung Luật Giá hoặc thực hiện quy định tại khoản 4, Điều 19 Luật Giá: “Trường hợp cần thiết phải điều chỉnh danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá, giao Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định”.

Về quyền đăng ký, sáng chế kiểu dáng công nghiệp thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước, đại biểu tỉnh Kiên Giang nhất trí với phương án 1 về việc giao quyền đăng ký cho tổ chức chủ trì; tổ chức chủ trì có quyền sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí khi được cấp văn bằng bảo hộ, trừ các đối tượng thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh vẫn do cơ quan nhà nước thực hiện đăng ký. Theo ông, quy định này góp phần thể chế hóa Nghị quyết số 20 – NQ/TW ngày 1.11.2012 của Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI: “Giao quyền sở hữu các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước cho cơ quan chủ trì nhiệm vụ khoa học và công nghệ…”

ĐBQH Nguyễn Danh Tú (Kiên Giang) phát biểu

Ảnh: Quang Khánh 

Bên cạnh đó, đại biểu Tú cũng đề nghị cơ quan soạn thảo cần thể chế hóa cụ thể hơn nội dung “… có cơ chế phân chia hợp lý lợi ích giữa Nhà nước, cơ quan chủ trì và tác giả” như Nghị quyết số 20 – NQ/TW đã quy định để bảo đảm hài hòa giữa lợi ích Nhà nước, cơ quan chủ trì và tác giả; nghiên cứu mở rộng đối tượng giao quyền đăng ký cho đơn vị chủ trì đối với giống cây trồng. Trong Báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ về dự kiến tiếp thu, giải trình cơ quan chủ trì soạn thảo đã nêu ý kiến nghiên cứu để đề xuất tiếp thu.

Ngoài ra đại biểu cũng đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo cần luận giải rõ hơn việc không áp dụng cơ chế giao quyền đăng ký cho đơn vị chủ trì đối với một số đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan. Trong Báo cáo tiếp thu, giải trình, cơ quan chủ trì soạn thảo cho rằng “… nguy cơ tác phẩm, chương trình bị sửa đổi, lồng ghép, biến tấu, thay đổi nội dung, có thể ảnh hưởng đến định hướng của Nhà nước". Các hành vi này là hành vi vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan, vi phạm pháp luật. Các cơ quan có thẩm quyền, với chức năng quản lý nhà nước, tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, có quyền xử lý vi phạm hành chính hoặc hình sự; không phụ thuộc vào việc có áp dụng cơ chế giao quyền đăng ký cho đơn vị chủ trì hay không.

Về xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, Chính phủ đưa ra 2 Phương án: Phương án 1, các hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, tên thương mại, bí mật kinh doanh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh sẽ không bị xử phạt hành chính mà chỉ bị xử lý bằng biện pháp dân sự. Phương án 2, áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đối với tất cả các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Đại biểu Tú đề nghị nên xem xét, lựa chọn Phương án 2 vì các lý do: 

Thứ nhất, nếu theo Phương án 1 thì chưa bảo đảm tính thống nhất trong xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Một số hành vi xâm phạm (như: đối với quyền tác giả, quyền liên quan, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, giống cây trồng) thì bị xử lý hành chính. Một số hành vi xâm phạm (như : đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp... ) thì không bị xử lý hành chính. 

Thứ hai, có ý kiến cho rằng “hành vi xâm phạm quyền dân sự, cần được xử lý bằng các biện pháp dân sự”. Theo tôi, hành vi xâm phạm “quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, tên thương mại, bí mật kinh doanh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh”, không chỉ xâm phạm quyền dân sự, mà còn xâm phạm trật tự quản lý kinh tế - xã hội. Bên cạnh biện pháp dân sự để xử lý như yêu cầu bồi thường thiệt hại; hành vi xâm phạm này có thể bị xử lý bằng biện pháp hành chính, cao hơn có thể bị xử lý bằng biện pháp hình sự (Điều 226 Bộ luật Hình sự quy định tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp).

Thứ ba, nếu loại trừ việc xử lý hành chính đối với hành vi xâm phạm “quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, tên thương mại, bí mật kinh doanh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh” sẽ làm ảnh hưởng đến quyền chủ động, kịp thời, nhanh chóng của cơ quan nhà nước trong xử lý hành chính đối với hành vi vi phạm trong các trường hợp nêu trên.

Thứ tư, về pháp lý, có 4 loại trách nhiệm: trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm kỷ luật. Trách nhiệm hành chính không loại trừ trách nhiệm dân sự. Trách nhiệm hành chính là trách nhiệm của người có hành vi vi phạm pháp luật hành chính với Nhà nước. Người bị xâm phạm vẫn có quyền khởi kiện yêu cầu người có hành vi xâm phạm bồi thường thiệt hại.

Vì vậy, đại biểu Tú đề nghị xem xét, lựa chọn Phương án 2, áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đối với tất cả các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

PV Hoàng Ngọc

16:51

Điểm cầu tỉnh Quảng Nam: Cần quy định bảo đảm quyền nhân thân của tác giả

Góp ý về những nội dung cụ thể trong Dự thảo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, từ điểm cầu Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Nam, ĐBQH Dương Văn Phước đề nghị bỏ cụm từ “gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả", đồng thời bổ sung cụm từ “khi chưa được tác giả cho phép" vào khoản 4, Điều 1 của dự thảo về sửa đổi, bổ sung Điều 19 về Quyền nhân thân. Sau đó viết lại khoản 4, Điều 1 như sau: "Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; sửa đổi, cắt xén tác phầm dưới bất kỳ hình thức nào khi chưa được tác giả cho phép", cho chặt chẽ, để tránh tuỳ nghi trong việc áp dụng pháp luật sau này.

ĐBQH Dương Văn Phước phát biểu tại điểm cầu Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Nam

Lý giải cho đề nghị này, đại biểu Dương Văn Phước cho rằng: Sự toàn vẹn của tác phẩm gắn với quyền nhân thân là yếu tố mà pháp luật về Sở hữu trí tuệ luôn đề cao, bảo vệ. Quy định của Luật Sở hữu trí tuệ phải bảo vệ tuyệt đối quyền nhân thân của tác giả, bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm và không ai được quyền xâm phạm khi chưa được tác giả cho phép. Với quy định về quyền nhân thân như Dự thảo, các tổ chức, cá nhân có thể sửa đổi, cắt xén tác phẩm, miễn là không phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả. Nếu quy định như vậy sẽ làm mất đi vai trò, hạn chế quyền của tác giả đối với tác phẩm của mình; đồng thời, tạo ra sự tùy tiện cho việc xâm hại quyền nhân thân của tác giả, vì cá nhân, tổ chức hoàn toàn có thể tác động vào tác phẩm mà không cần sự cho phép của tác giả, miễn là không “gây phương hại đến danh dự và uy tín, của tác giả".

Ngoài ra, cũng theo đại biểu Dương Văn Phước, việc quy định “phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả" là một quy định rất khó xác định, đánh giá trên thực tế. Vì giá trị của mỗi tác phẩm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có ý chí chủ quan và quan điểm riêng của tác giả. Tiêu chí nào để xác định là phương hại hay không phương hại, và phương hại đến mức độ nào?

Về vấn đề này, tại khoản 3 Điều 20 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP ngày 23.2.2018 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ đã quy định “Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén tác phẩm quy định tại khoản 4 Điều 19 của Luật sở hữu trí tuệ là việc không cho người khác sửa chữa, cắt xén tác phẩm hoặc sửa chữa, nâng cấp chương trình máy tính trừ trường hợp có thoả thuận của tác giả" . Có thể nói, quy định này là chặt chẽ hơn Luật sửa đổi lần này, tuyệt đối hóa quyền nhân thân của tác giả theo hướng “mọi hành vi sửa chữa, cắt xén tác phẩm hoặc sửa chữa mà không có sự thỏa thuận của tác giả đều là hành vi vi phạm quyền nhân thân”. Vì vậy, đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung nội dung trên để đảm bảo quyền nhân thân của tác giả trong Dự thảo Luật lần này

PV Mỹ Phượng - Lê Quang

17:05

Đại biểu Quốc hội Đỗ Đức Hồng Hà (Hà Nội): Đề nghị bổ sung pháp nhân thương mại vào Điều 212

Đại biểu Quốc hội Đỗ Đức Hồng Hà (Hà Nội) đánh giá cao chất lượng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật. Nêu quan điểm để tiếp tục hoàn thiện dự án luật, ĐB Hà đề nghị sửa thêm Điều 212 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành quy định cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự. 

Có hai lý do được đại biểu Hà đưa ra cho đề xuất kể trên. Một là, quy định tại Điều 212 vừa không thống nhất với quy định của Bộ luật Hình sự, vừa bỏ lọt chủ thể xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, đó là pháp nhân thương mại. Bởi lẽ, theo quy định của Bộ luật Hình sự, pháp nhân thương mại cũng là chủ thể tội phạm và cũng phải chịu trách nhiệm hình sự theo Khoản 6, Điều 195; khoản 4, Điều 225 và khoản 4, Điều 226 Bộ luật Hình sự. Để bảo đảm tính thống nhất giữa các đạo luật, không bỏ lọt chủ thể của các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, đại biểu đề nghị bổ sung pháp nhân thương mại vào Điều 212. 

Hai là, Điều 212 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành quy định có yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Quy định này chưa rõ, chưa đủ, chưa chặt chẽ. Bởi lẽ, cấu thành tội phạm gồm 4 yếu tố: khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan. Thiếu một trong bốn yếu tố này thì hành vi không cấu thành tội phạm và đương nhiên, không gánh chịu trách nhiệm hình sự. Từ những phân tích trên, Điều 212 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành sau khi được sửa đổi, bổ sung có nội dung như sau: Cá nhân, pháp nhân thương mại thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 

ĐBQH Đỗ Đức Hồng Hà (Hà Nội) phát biểu

Ảnh: Quang Khánh

Về hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bị xử phạt vi phạm hành chính, dự thảo Luật đưa ra hai phương án. Phương án 1, sửa đổi, bổ sung Điểm a, khoản 1, Điều 211 như sau: Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với quyền tác giả, quyền liên quan đến nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, giống cây trồng, cây theo tác giả… Phương án 2, giữ nguyên điểm a, khoản 1, Điều 211 và các quy định chung xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho tác giả… Đại biểu Hà tán thành phương án 1 vì bảo đảm tính cụ thể, minh bạch của luật. Mặt khác, theo quy định tại khoản 1, Điều 4, Luật Sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu trí tuệ gồm: quyền tác giả, quyền liên quan; quyền sở hữu công nghiệp; quyền đối với giống cây trồng.

Nếu quy định chung như phương án 2 thì không rõ là xâm phạm quyền nào trong ba quyền nêu trên. Phương án này còn thể hiện rõ sự phân hóa tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, là cơ sở pháp lý quan trọng để phân hoá trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự. Bởi lẽ hành vi xâm phạm ở các quy định khác nhau thì tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó cũng khác nhau. Cụ thể, trong các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hành vi xâm phạm quyền đối với giống cây trồng có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội cao nhất và cao hơn rất nhiều so với các hành vi xâm phạm còn lại.

ĐBND