Tháo gỡ nợ tín dụng ngân hàng 

Xem với cỡ chữ

Trong những năm gần đây, số vụ tranh chấp liên quan đến hợp đồng tín dụng ngày càng tăng. Thống kê của Tòa Kinh tế, Tòa án Nhân dân TP. Hồ Chí Minh cho biết, từ khi Nghị quyết số 42/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng có hiệu lực (ngày 15.8.2017) đến nay, Tòa án Nhân dân hai cấp đã thụ lý 12.333 vụ tranh chấp hợp đồng tín dụng liên quan việc xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng; đã giải quyết 9.897 vụ việc, còn 2.361 vụ việc chưa giải quyết, tỷ lệ giải quyết đạt 80,25%. Riêng tại Tòa án Nhân dân TP. Hồ Chí Minh thụ lý 2.809 vụ, giải quyết là 1.686 vụ, tỷ lệ giải quyết đạt 60%.  

Thực tiễn xét xử tranh chấp cũng phát sinh nhiều vướng mắc như: V iệc thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn, xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp... Đặc biệt là khó khăn trong việc xác minh hiện trạng tài sản, thu thập chứng cứ… Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thi hành án dân sự liên quan đến tổ chức tín dụng. Đơn cử, tại TP. Hồ Chí Minh, năm cao nhất chỉ đạt hơn 24%/năm (2018, 2020), năm 2019 con số này chưa tới 12%.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực tế nêu trên, tuy nhiên theo các chuyên gia pháp lý, ngân hàng thì nguyên nhân hàng đầu vẫn là do các quy định về trình tự thủ tục kê biên, bán đấu giá tài sản trong thi hành án rất phức tạp. Ngoài ra còn có sự chồng chéo mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật chuyên ngành. Trong khi đó, số lượng tiền phải thi hành án cho các tổ chức tín dụng là rất lớn, chiếm trên 50% tổng giá trị mà cơ quan thi hành án phải tổ chức thi hành.

Hầu hết những vụ việc liên quan đến tín dụng, ngân hàng đều phải kê biên, xử lý tài sản bảo đảm là bất động sản, nhà đất có giá trị lớn; trình tự, thủ tục xử lý tài sản (nhất là bất động sản) còn khá phức tạp, mất nhiều thời gian; một số trường hợp hiện trạng tài sản thế chấp không phù hợp, có sai lệnh nhiều về diện tích giữa thực tế so với giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng gây khó khăn cho việc xác minh xử lý tài sản…

Kết quả rà soát gần đây của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cũng cho thấy, việc tổ chức thi hành án dân sự liên quan đến tổ chức tín dụng có hai loại vướng mắc chủ yếu. Thứ nhất, các vướng mắc do không thống nhất trong cách thức áp dụng quy định của pháp luật (bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình; Áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm; Đình chỉ thi hành án tài sản của bên thứ ba trong quá trình giải quyết phá sản…) Thứ hai, các vướng mắc, bất cập liên quan đến thủ tục hành chính tố tụng (Hồ sơ khởi kiện; Gửi văn bản tố tụng; thời hạn giải quyết vụ án; Gửi bản án/quyết định cho ngân hàng; Thụ lý và triệu tập ngân hàng tham gia tố tụng; Địa chỉ người bị kiện...).

Liên quan đến thực hiện Nghị quyết số 42/2017, Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao đã ban hành Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ. Tuy nhiên, hướng dẫn này lại thiếu những vấn đề, hiện đang là vướng mắc trong quá trình xử lý án liên quan đến tổ chức tín dụng như: Hướng dẫn xử lý vướng mắc trong quá trình thu giữ tài sản do khách hàng không hợp tác; việc hoàn trả các tài sản bảo đảm là vật chứng của vụ án hình sự sau khi đã hoàn tất các thủ tục xác minh chứng cứ quy định tại Nghị quyết số 42/2017... Bên cạnh đó, nhiều chuyên gia pháp lý cũng cho rằng, cần có biện pháp chế tài đối với người có tài sản thế chấp (hoặc những người liên quan đến người có tài sản thế chấp) nếu họ cố tình không hợp tác, cố tình kéo dài thời gian giải quyết vụ án; quy định cụ thể đối với các tổ chức tín dụng khi nhận tài sản thế chấp phải tiến hành thẩm định, kiểm tra tài sản thế chấp trên thực tế với giấy tờ.

Đình Khoa