Bảo đảm tính hợp pháp gỗ nhập khẩu

Tăng kết nối, chia sẻ thông tin 

Xem với cỡ chữ
Mặc dù Nghị định 102/2020/NĐ-CP của Chính phủ đã quy định khá rõ và chi tiết về Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp đối với gỗ xuất, nhập khẩu... nhưng thực tế, do thiếu thông tin về chuỗi cung gỗ xuất khẩu tại các quốc gia cung cấp gỗ cho Việt Nam nên các hoạt động kiểm soát của các cơ quan chức năng theo tinh thần của Nghị định số 102/2020/NĐ-CP hiện đang gặp không ít khó khăn, đòi hỏi cần sớm thiết lập kênh kết nối chính thức với các quốc gia xuất khẩu gỗ rủi ro cho Việt Nam.

Rủi ro từ nguồn cung

Liên quan đến chống chuyển tải bất hợp pháp với gỗ, ông Đào Duy Tám đại diện Tổng cục Hải quan cho biết, cơ quan này đang điều tra một số doanh nghiệp nhập khẩu gỗ từ nước ngoài, trong đó có 8 doanh nghiệp sản xuất ván ép, gỗ dán xuất khẩu. Kết quả điều tra bước đầu cho thấy, một số doanh nghiệp chưa xuất trình được giấy tờ hợp pháp về gỗ.

Hiện Việt Nam là quốc gia đứng thứ 2 ở châu Á và thứ 5 trên giới về kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng gỗ. Kim ngạch xuất khẩu đang trên đà mở rộng, mục tiêu hết 2021 kim ngạch xuất khẩu gỗ đạt 15 tỷ USD và 20 tỷ năm 2025. Theo đó, để đáp ứng nhu cầu về gỗ, mỗi năm Việt Nam đã phải nhập khẩu  tương đối lớn gỗ từ các nước nhiệt đới như Nam Phi, Campuchia... Bởi hiện nay nguồn cung trong nước không đủ cung cấp cho chế biến do Chính phủ thực hiện lệnh đóng cửa rừng tự nhiên.

Tuy nhiên, nguy cơ rủi ro khi nguồn gỗ nhập khẩu vào Việt Nam không tuân thủ được toàn bộ các yêu cầu của quốc gia khai thác và quốc gia xuất khẩu là rất lớn. Đặc biệt, những rủi ro về tính pháp lý của nguồn cung gỗ nhiệt đới nhập khẩu đang đe dọa đến sự bền vững của toàn ngành gỗ. Nghiên cứu do Tổ chức Forest Trends và Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam thực hiện về sử dụng gỗ châu Phi tại Việt Nam cho thấy, chỉ tính riêng cho nguồn gỗ nhập khẩu từ châu Phi, năm 2020 Việt Nam có khoảng 240 doanh nghiệp trực tiếp tham gia nhập khẩu. Doanh nghiệp có quy mô nhỏ và rất nhỏ đóng vai trò chủ đạo về số lượng doanh nghiệp tham gia khâu nhập khẩu gỗ châu Phi vào Việt Nam.

Hầu hết giao dịch giữa người mua (công ty nhập khẩu tại Việt Nam) và người bán (công ty xuất khẩu tại châu Phi) là các giao dịch online, thông qua việc trao đổi hình ảnh của gỗ qua mạng xã hội như Zalo, Facebook. Các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ, không có điều kiện và tài chính, nhân lực nên hầu như không có các hoạt động kiểm tra thực địa về các hoạt động trong chuỗi cung xuất khẩu. Các loại giấy tờ trong bộ hồ sơ xuất khẩu cũng không được kiểm chứng về tính xác thực.

Từ thực tế là doanh nghiệp nhập khẩu 80% lượng gỗ từ nước ngoài để phục vụ nhu cầu sản xuất, tiêu dùng nội địa trong nhiều năm qua, ông Phạm Tuấn Giang, đại diện Công ty Huệ Lan - một trong những doanh nghiệp xuất nhập khẩu đồ gỗ tại tỉnh Bắc Giang cho biết: Công ty phải nhập tới 80% lượng gỗ từ thị trường nước ngoài về, giá trị trung bình khoảng 70 tỷ đồng/năm. Trên bình diện chung, nguồn cung gỗ nguyên liệu trong nước chủ yếu là nguồn rừng trồng, phần lớn gỗ keo rừng trồng là gỗ nhỏ, chủ yếu được đưa vào nguyên liệu đầu vào sản xuất dăm, viên nén và một số loại ván. Phần nguyên liệu gỗ lớn được đưa vào chế biến các mặt hàng đồ gỗ như đồ gỗ văn phòng, phòng ngủ chủ yếu để phục vụ xuất khẩu. Hơn nữa, do quy mô doanh nghiệp nhập khẩu gỗ nguyên liệu rất nhỏ nên không có điều kiện để sang kiểm tra nguồn hàng, tiềm lực hạn chế nên khó kiểm tra tính hợp pháp của giấy tờ.

Điều đáng nói, cũng như nhiều doanh nghiệp nhập khẩu gỗ khác của Việt Nam, công ty này nhập khẩu gỗ qua khâu trung gian. Do vậy, việc yêu cầu nhà cung cấp đưa các giấy tờ pháp lý về gỗ là rất khó khăn bởi đôi khi còn là bí mật kinh doanh của họ.

Theo các chuyên gia, gỗ được nhập từ các nước nhiệt đới có rủi ro về pháp lý rất cao

Gỗ hợp pháp bắt đầu từ chuỗi cung ứng

Nghị định số 102/NĐ-CP được Chính phủ ban hành tháng 9.2020 quy định Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp. Nghị định đã quy định các tiêu chí xác định gỗ rủi ro nhập khẩu từ đó đưa ra các cơ chế nhằm kiểm soát rủi ro; Tập trung vào nguồn cung gỗ nguyên liệu là gỗ tự nhiên nhập khẩu vào Việt Nam. Tuy nhiên, trong khâu kiểm soát nhập khẩu, các hoạt động kiểm soát của các cơ quan chức năng theo tinh thần của Nghị định số 102/2020/NĐ-CP hiện đang gặp khó khăn, chủ yếu là do thiếu thông tin về chuỗi cung gỗ xuất khẩu tại các quốc gia cung gỗ cho Việt Nam. Kết quả là các rủi ro đối với luồng cung nhập khẩu này vẫn đang tồn tại mà chưa được giải quyết triệt để. Điều này trực tiếp ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của ngành.

Theo Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam Đỗ Xuân Lập: trong bối cảnh đại dịch Covid-19, ngành gỗ tăng trưởng ở mức 2 con số tính về kim ngạch xuất khẩu. Chỉ tính riêng 3 tháng đầu 2021, kim ngạch xuất khẩu của ngành đã đạt tương đương với 20% trong tổng kim ngạch của cả năm 2020. Nếu duy trì được đà tăng trưởng như hiện nay, con số mục tiêu 14 - 14,5 tỷ USD về kim ngạch xuất khẩu mà Chính phủ đặt ra cho ngành trong năm 2021 là hoàn toàn có thể kỳ vọng.

Tuy vậy, một vấn đề đáng bàn đó là bình quân mỗi năm chúng ta nhập khẩu khoảng 2 - 2,5 triệu mét khối gỗ quy tròn là gỗ nhiệt đới - đây là con số rất lớn, tương đương 40 - 50% tổng lượng gỗ tròn và xẻ nhập khẩu. Theo tiêu chí phân loại gỗ nhập khẩu của Nghị định số 102/2020/NĐ-CP thì đây là nguồn gỗ rủi ro cao. “Nguồn gỗ này được nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu được sử dụng phục vụ tiêu dùng nội địa. Thói quen sử dụng gỗ tự nhiên, gỗ thịt, đặc biệt là các loài gỗ quý vẫn còn tồn tại tương đối phổ biến tại Việt Nam. Tuy nhiên, thói quen này đang gây ra những tổn hại về mặt môi trường và cho cả ngành gỗ" - ông Đỗ Xuân Lập nêu ý kiến.

Để tăng cường tính xác thực của hồ sơ giấy tờ trong bộ hồ sơ xuất/nhập khẩu, các chuyên gia cũng như các doanh nghiệp xuất nhập khẩu gỗ cho rằng: Chính phủ nên thiết lập kết nối chính thức với Chính phủ của các quốc gia cung gỗ nguyên liệu rủi ro cho Việt Nam. Kết nối này giúp cho các cơ quan chức năng của Việt Nam nắm rõ được quy trình trong chuỗi cung xuất khẩu, các yêu cầu pháp lý có liên quan tới các hoạt động của chuỗi và tính xác thực của các giấy phép, tài liệu nằm trong bộ hồ sơ xuất khẩu. Đồng thời, giúp cho Chính phủ Việt Nam tiếp cận đối với nguồn thông tin về các doanh nghiệp được phép khai thác, chế biến và được phép xuất khẩu tại quốc gia xuất khẩu.

Hải Thanh