Bước tiến cả về lượng và chất

- Chủ Nhật, 07/07/2024, 06:34 - Chia sẻ

Bắt đầu “manh nha” vào năm 1989 cho đến thời điểm Nghị định số 22/1999/NĐ-CP, Luật Đầu tư 2005 được thông qua và Nghị định số 78/2006/NĐ-CP được ban hành, đầu tư của các doanh nghiệp ra nước ngoài đã có những bước tiến đáng kể cả về lượng và chất.

Theo số liệu thống kê, hiện tại cả nước có 1.733 dự án đầu tư tại 81 quốc gia, vùng lãnh thổ với tổng số vốn gần 23 tỷ USD. Trung bình mỗi năm có khoảng 400 - 500 triệu USD đầu tư ra nước ngoài. Về cơ cấu dự án đầu tư ra nước ngoài, khối doanh nghiệp nhà nước hiện vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất với 52% dù năm 2023 không có dự án nào. Tiếp đó là khối doanh nghiệp tư nhân chiếm 46%, doanh nghiệp FDI là 0,5%...

Về hình thức đầu tư, có tới 91% theo hình thức lập tổ chức kinh tế tại nước ngoài nhưng thời gian gần đây xu hướng doanh nghiệp tham gia hoạt động góp vốn mua cổ phần tại các tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài gia tăng đáng kể. Thị trường đầu tư vài năm qua cũng thay đổi đáng kể khi không còn tập trung ở các quốc gia có điều kiện cơ chế chính sách tương đồng với Việt Nam mà đã mở rộng sang các nước phát triển.

Đặc biệt, hoạt động đầu tư theo chiều rộng vào các lĩnh vực như khoáng sản, nông lâm nghiệp… đã giảm. Nhiều doanh nghiệp đang triển khai dự án theo chiều sâu, đầu tư vào các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao như chế biến, chế tạo, dịch vụ tài chính ngân hàng, công nghệ cao, công nghệ số và bước đầu đã gặt hái được thành công.

Có thể thấy, hoạt động đầu tư ra nước ngoài đã có bước chuyển đáng kể. Đây là kết quả từ việc chuẩn hóa thủ tục đầu tư và hoàn thiện hành lang pháp lý phù hợp bối cảnh mới của cơ quan quản lý, tạo sự thông thoáng, tăng cường hiệu lực quản lý với các dự án đầu tư. Qua đó khẳng định uy tín, vị trí, vai trò của Việt Nam - là khu vực kinh tế năng động, đóng góp tích cực vào thành tựu tăng trưởng, phát triển và hội nhập kinh tế thế giới, thúc đẩy chuyển đổi cơ bản nền kinh tế. Đồng thời khẳng định khả năng kinh doanh, quản trị, tầm nhìn và chiến lược của các doanh nghiệp Việt Nam trong đầu tư các dự án ở nước ngoài.

Tuy nhiên, thực tế, hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro, thách thức và những hạn chế cần sớm khắc phục. Đầu tiên phải kể đến đó là những vấn đề về pháp lý khi đầu tư tại nước sở tại, dẫn đến các tranh chấp ngoài mong muốn. Tiếp đó là thời gian để có giấy phép đầu tư ra nước ngoài còn dài. Hoạt động của các doanh nghiệp còn mang tính tự phát, thiếu liên kết, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong hoạt động đầu tư, kinh doanh trên cùng địa bàn…

Bởi vậy, để hoạt động đầu tư ra nước ngoài đạt hiệu quả hơn nữa, về phía doanh nghiệp cần nghiên cứu, tìm hiểu kỹ cơ chế, chính sách pháp luật của thị trường quốc tế. Có định hướng hoạt động kinh doanh lâu dài, tạo dựng uy tín và thương hiệu. Chủ động dự báo và có biện pháp phòng ngừa các tranh chấp có thể phát sinh. Tăng cường liên kết, chia sẻ thông tin, nâng cao vai trò của các đại sứ và tham tán thương mại tại nước ngoài.

Đối với các cơ quan chức năng, cần có tầm nhìn dài hạn. Bên cạnh đó, cần xây dựng, bổ sung các chính sách thiết thực, hấp dẫn hơn nữa nhằm hỗ trợ, thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài. Ngoài ra, cần tăng cường giám sát chất lượng dòng vốn. Kịp thời nắm bắt và có công cụ hướng dẫn doanh nghiệp giải quyết các khó khăn, vướng mắc, rủi ro gặp phải trong quá trình đầu tư, bảo đảm phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong nước cũng như xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng như hiện nay.

Khi đầu tư ra nước ngoài, doanh nghiệp đón nhận nhiều cơ hội nhưng đi kèm là không ít thách thức và rủi ro. Cho nên, để có thể gặt hái được thành công, cùng với sự hỗ trợ, tạo điều kiện của các cơ quan chức năng, quan trọng nhất là doanh nghiệp cần phải chuẩn bị thật tốt mọi điều kiện.

Ninh Hà
#