Tập đoàn Điện lực Việt Nam

Phát triển hệ sinh thái chuyển đổi số 

Xem với cỡ chữ
Với tính chất là ngành có hàm lượng khoa học công nghệ cao, yêu cầu chuyển đổi số sớm và thành công là nhiệm vụ cấp thiết, là giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN). Chính vì vậy, Đảng ủy EVN đã đưa ra mục tiêu xây dựng EVN trở thành doanh nghiệp số vào năm 2025, trong đó, chuyển đổi số cơ bản hoàn thành trong năm 2022, hướng tới xây dựng hệ sinh thái về chuyển đổi số.

Trong năm 2020, Tập đoàn tiếp nhận gần 2 triệu yêu cầu dịch vụ công cấp độ 4 (cung cấp 12 dịch vụ điện), trong đó có 50% yêu cầu tiếp nhận qua kênh internet. EVN đã liên kết với các ngân hàng, tổ chức thanh toán trung gian, xây dựng hệ sinh thái tạo tiện ích cho khách hàng khi thanh toán tiền điện qua đa kênh. Năm 2020, tỷ lệ khách hàng thanh toán tiền điện không dùng tiền mặt đạt 20,67 triệu khách hàng, tương ứng 74,88% số hóa đơn phát hành.

Từ quyết tâm của người lãnh đạo…

Không ít ý kiến cho rằng, chuyển đổi số là hành trình, chứ không phải một dự án hay một sáng kiến và 3 yếu tố quan trọng với hành trình chuyển đổi số là sự bảo trợ, cam kết của lãnh đạo; platform (nền tảng) và con người. Với EVN, ý chí, sự quyết tâm của Ban lãnh đạo về chuyển đổi số đã góp phần lan tỏa, truyền tải đến toàn hệ thống. 

Theo Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV EVN Dương Quang Thành, Đảng và Chính phủ đã đưa ra nhiều nghị quyết, quyết định, chỉ thị về chuyển đổi số và EVN đã sớm xây dựng Đề án chuyển đổi số, ban hành tới các đơn vị. EVN là đơn vị đầu tiên, đảng bộ đầu tiên ra nghị quyết về chuyển đổi số của Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương. Với mục tiêu xây dựng EVN trở thành doanh nghiệp số, tận dụng tối đa sức mạnh của công nghệ số, dữ liệu số, gia tăng hiệu quả hoạt động, đổi mới sáng tạo, tối ưu hóa chi phí, nâng cao trải nghiệm và mức độ hài lòng của khách hàng, nâng cao năng suất lao động... EVN cũng lựa chọn chủ đề năm 2021 là “Chuyển đổi số trong Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam”, hướng tới mục tiêu bảo đảm cung ứng đủ điện cho phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2025 và trở thành doanh nghiệp mạnh trong khu vực. 

Sự chỉ đạo quyết liệt từ Ban lãnh đạo đã tạo sức bật cho công tác kinh doanh - dịch vụ khách hàng. Tổng Giám đốc EVN Trần Đình Nhân chia sẻ, nếu như trước đây, để hoàn thành việc ghi số điện, phải tốn nhiều thời gian, nhân lực và tiềm ẩn nguy hiểm cho công nhân, thì nay, nhờ có chuyển đổi số, số liệu từ công tơ điện tử tự động đã chuyển về trung tâm dữ liệu, chuyển thành hóa đơn điện tử và khách hàng dễ dàng thanh toán tiền điện qua ngân hàng. Đó là sự thay đổi rất lớn trong mô hình kinh doanh, chăm sóc khách hàng của EVN 10 năm qua. 

Trưởng ban Viễn thông và Công nghệ thông tin EVN Nguyễn Xuân Tuấn cho biết, từ tháng 12.2019, EVN đã cung cấp các dịch vụ cấp điện qua lưới trung, hạ áp và thanh toán tiền điện trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia, tạo thuận lợi cho khách hàng và tăng tính minh bạch trong các giao dịch. Số yêu cầu cung cấp dịch vụ điện được tiếp nhận qua Cổng Dịch vụ công quốc gia của EVN chiếm 77% tổng số yêu cầu. Với phương châm “Khách hàng là trung tâm mọi hoạt động”, lĩnh vực kinh doanh, dịch vụ khách hàng được EVN ứng dụng công nghệ thông tin nhiều nhất; 5 Trung tâm Chăm sóc khách hàng của EVN được trang bị nhiều công cụ hỗ trợ như hệ thống Chatbot, các trang web, app chăm sóc khách hàng… Trong quản lý nghiệp vụ công tác kinh doanh, EVN đã phát triển hệ thống phần mềm quản lý khách hàng sử dụng điện (CMIS) với hơn 28 triệu khách hàng, đáp ứng các yêu cầu theo quy trình, nghiệp vụ kinh doanh điện và dịch vụ khách hàng (25 dịch vụ điện). Ứng dụng ký số điện tử, các hồ sơ, tài liệu, hợp đồng mua bán điện cũng từng bước được số hóa. 

Đại diện EVN chia sẻ, trong lĩnh vực kỹ thuật - sản xuất, các đơn vị trong EVN đã triển khai và sử dụng hệ thống phần mềm Quản lý kỹ thuật (PMIS) với các chức năng chính như quản lý dữ liệu về lý lịch, tình trạng thiết bị, quá trình vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa, thí nghiệm định kỳ; giúp cho đơn vị quản lý tổng quan về hệ thống lưới, nhà máy điện. Đến tháng 12.2020, đã cập nhật dữ liệu hơn 82% trạm, máy biến áp từ trung thế trở lên trên PMIS. 

Ngoài ra, EVN còn có nhiều ứng dụng khác được xây dựng và đưa vào sử dụng như hệ thống dự báo phụ tải và tính toán hệ thống điện; hệ thống quản lý độ tin cậy cung cấp điện OMS; ứng dụng tin học hóa sửa chữa bảo dưỡng thiết bị theo phương pháp tiên tiến. Trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, EVN ứng dụng phần mềm quản lý chuyên dụng IMIS tại 239 đơn vị trong Tập đoàn. Phần mềm bao gồm 10 phân hệ và 26 chức năng chính, quản lý thông tin toàn bộ dự án đầu tư xây dựng và quá trình thực hiện từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư đến kết thúc đầu tư.

EVN đặt mục tiêu trở thành doanh nghiệp số vào năm 2025

… tới chuyển đổi về tư duy, nhận thức

Mặc dù đã đạt nhiều thành tựu trong công tác chuyển đổi số, song, Chủ tịch HĐTV EVN Dương Quang Thành cũng cho biết, nhìn tổng thể, Tập đoàn vẫn còn một số hạn chế về năng lực nghiên cứu công nghệ mới, về tiếp nhận, ứng dụng, khai thác công nghệ số. Sự nhận thức về chuyển đổi số của một số lãnh đạo, cán bộ công nhân viên trong Tập đoàn còn chưa đầy đủ, toàn diện; có sự hoài nghi về thành công và hiệu quả của ứng dụng công nghệ chuyển đổi số.

Nguyên nhân chủ yếu là do EVN là Tập đoàn kinh tế, không phải Tập đoàn công nghệ thông tin, chưa có đơn vị chuyên trách về nghiên cứu khoa học, nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới. Các công nghệ như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, chuỗi khối, IoT… còn rất mới, nhiều công nghệ chưa có chuẩn chung, do đó việc tiếp cận nghiên cứu, tìm hiểu để ứng dụng vào thực tế sản xuất của Tập đoàn cần có thời gian, có nguồn nhân lực chất lượng cao, nắm bắt được các công nghệ mới. Bên cạnh đó, cơ chế chính sách cho việc thử nghiệm ứng dụng các công nghệ mới còn thiếu đồng bộ, cũng gây khó khăn cho quá trình triển khai, trong đó, một số cơ chế như đấu thầu không vận dụng được trong quá trình nghiên cứu thử nghiệm công nghệ mới… 

Trước thực tế đó, lãnh đạo EVN nhấn mạnh, để triển khai hiệu quả chuyển đổi số và an toàn thông tin, phải bắt đầu từ chuyển đổi nhận thức; đổi mới tư duy của mỗi cán bộ, nhân viên, người lao động. Các Tổng công ty, đơn vị trong EVN phải quán triệt nghị quyết về chuyển đổi số; lan tỏa và có cách truyền đạt thông tin dễ hiểu, cụ thể về chuyển đổi số, để mỗi cán bộ, nhân viên, người lao động có thể nắm bắt, đồng hành, cùng nỗ lực vì mục tiêu chung của EVN.

Cùng với đó, các đơn vị cần khẩn trương thiết lập và vận hành hệ thống hạ tầng số, hạ tầng an ninh bảo mật đáp ứng yêu cầu công tác chuyển đổi số và bảo đảm an ninh, an toàn thông tin. Cụ thể, nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của EVN như công nghệ hạ tầng hội tụ, công nghệ điện toán đám mây, công nghệ ảo hóa, trí tuệ nhân tạo, công nghệ xử lý dữ liệu lớn, công nghệ mobile computing, công nghệ IoT...

Mặt khác, tập trung hoàn thiện hạ tầng số mà nền tảng là hệ thống EVN’s Cloud, xây dựng nền tảng số, phát triển AI; chuẩn hóa cơ sở dữ liệu; đẩy mạnh tự động hóa, nghiên cứu sử dụng robot để thực hiện các công việc nặng nhọc, nguy hiểm… Đồng thời, bảo đảm an ninh, an toàn cho hệ thống thông tin và cho hệ thống điều khiển, điều độ, vận hành hệ thống điện. Các đơn vị cũng cần xây dựng kịch bản diễn tập và tổ chức diễn tập phòng, chống tấn công, ứng cứu xử lý sự cố và biện pháp khôi phục hệ thống trong các tình huống giả định.

Khẳng định EVN đã xây dựng bộ chỉ số đánh giá hiệu quả chuyển đổi số, sẽ theo dõi sát sao kết quả thực hiện của các đơn vị, Tổng Giám đốc EVN Trần Đình Nhân yêu cầu, các đơn vị khi triển khai chuyển đổi số cần xây dựng hệ sinh thái riêng của đơn vị mình, đồng bộ với hệ sinh thái chung, tương thích với cơ sở dữ liệu của Tập đoàn. Quá trình chuyển đổi số cần gắn liền với việc tăng cường an toàn thông tin; các đơn vị cần thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng chính sách tiền lương thu hút nhân tài để tham gia thực hiện quá trình chuyển đổi số của EVN.

Dương Cầm