Phải bứt phá vượt bậc! 

Xem với cỡ chữ
Một nội dung trọng tâm được Quốc hội đặt lên bàn nghị sự tại Kỳ họp này là chất lượng tăng trưởng và sự phát triển bền vững trong giai đoạn tới đây như thế nào.

Ngay trong Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021 được thông qua đầu tuần trước, trên cơ sở đề xuất của Chính phủ, Quốc hội đã lần đầu tiên bổ sung các chỉ tiêu về chất lượng tăng trưởng, phát triển bền vững gồm: chỉ tiêu về đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt khoảng 45 - 47%; tốc độ tăng năng suất lao động xã hội khoảng 4,8%. Điều này cho thấy, tư duy và hành động của chúng ta về chất lượng tăng trưởng và sự phát triển bền vững của nền kinh tế đã có những thay đổi rất căn bản. 

Dù vậy, có lẽ cũng vì đây là lần đầu tiên các chỉ tiêu này được đưa thành chỉ tiêu pháp lệnh của Quốc hội, nên nhiều đại biểu có chung cảm nhận dường như Chính phủ muốn bảo đảm an toàn cho việc hoàn thành kế hoạch nên các chỉ tiêu cụ thể được đề xuất vẫn khiêm tốn. Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Trần Văn Minh khẳng định, chúng ta phải đạt được các chỉ tiêu này vượt mức đề ra mới đáp ứng được yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững hơn trong giai đoạn tới. 

Nếu nhìn vào những con số cụ thể về tỷ trọng đóng góp của TFP vào tăng trưởng trong thời gian qua thì sẽ thấy nhận định của các đại biểu Quốc hội là hoàn toàn có cơ sở. Trước năm 2010, đóng góp của TFP vào tăng trưởng rất thấp; từ năm 2010 mới bắt đầu tăng dần. Giai đoạn 2011 - 2015, chỉ tiêu này đạt khoảng 33,6% và đến giai đoạn 2016 - 2018 thì đã đạt khoảng 44,2%. Tính chung giai đoạn 5 năm vừa qua, đóng góp TFP vào tăng trưởng đạt khoảng 45,2%. Con số này hoàn toàn có thể cao hơn nữa nếu như không có những tác động tiêu cực của dịch bệnh Covid-19. Trong khi đó, kế hoạch giai đoạn 2021 - 2025 Chính phủ báo cáo Quốc hội cũng chỉ đặt mục tiêu khoảng 45%, thấp hơn kết quả đạt được của giai đoạn trước và chỉ bằng cận dưới của kế hoạch năm 2021 khi ảnh hưởng của dịch Covid-19 còn khá nặng nề. Cần lưu ý rằng, các nước trong khu vực hiện nay thì mức đóng góp của TFP vào tăng trưởng đều đã đạt mức trên 50%, ví dụ như Hàn Quốc là 51,5%, Trung Quốc là 52%, Thái Lan đạt 53%... Rõ ràng, tỷ lệ đóng góp của TFP vào tăng trưởng nước ta còn có khoảng cách khá xa so với các nước trong khu vực, đòi hỏi chúng ta phải có nhiều cố gắng hơn nữa. 

Hay với tốc độ tăng năng suất lao động xã hội, làm vài phép tính đơn giản từ số liệu thống kê cho thấy: năm 2017, tốc độ tăng năng suất lao động đạt 6,09% nhưng năng suất lao động vẫn rất thấp so với các nước trong khu vực như Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippines có năng suất lao động cao hơn nước ta lần lượt là 13,9; 5,4; 2,8; 2,3 và 1,8 lần. Năm 2019 tốc độ tăng năng suất lao động của nước ta tăng cao hơn mức tăng so với khu vực, nhưng vẫn chưa thu hẹp được đáng kể khoảng cách về năng suất lao động với các nước. Sau 2 năm so với Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, chúng ta chỉ thu hẹp được lần lượt là 5,0; 5,6; 7,1; 4,3%. Như vậy, nếu nước ta và các nước bạn vẫn giữ nguyên tốc độ tăng năng suất lao động như hiện nay thì phải sau khoảng 20 năm nữa, năng suất lao động của nước ta mới bằng các bạn. Năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 90% Myanmar, bằng 88,7% nước bạn Lào và chỉ cao hơn Campuchia. Điều này cho thấy, kinh tế Việt Nam sẽ phải đối mặt với thách thức rất lớn trong thời gian tới để có thể bắt kịp với năng suất lao động của các nước.

Cũng liên quan tới chất lượng tăng trưởng trong giai đoạn tới, một vấn đề được nhiều đại biểu Quốc hội đặt ra tại Kỳ họp này là tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng năng lượng tiêu thụ cuối cùng. Tại Báo cáo số 41 ngày 15.10.2020, Chính phủ đặt mục tiêu ở mức 31,5%. Để bảo đảm an ninh năng lượng, giảm thiểu biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường và bảo đảm phát triển xã hội bền vững, việc phát triển năng lượng tái tạo để thay thế một phần nhiệt điện than là xu hướng tất yếu. Tuy nhiên, mỗi loại đều có tồn tại và giới hạn của nó. Năng lượng tái tạo cũng vậy. Bên cạnh ưu điểm là sản phẩm của một quy trình sản xuất không tốn kém tài nguyên khoáng sản như nhiệt điện than nhưng nó lại tốn kém về tài nguyên đất và mặt nước. Mức độ phát triển năng lượng tái tạo còn liên quan đến khả năng trợ giá của Chính phủ, nhất là trong điều kiện ngân sách còn đang khó khăn. Những đặc điểm kỹ thuật đặc thù như công suất phát không ổn định, khó dự báo chính xác và năng lượng mặt trời chỉ phát vào ban ngày đòi hỏi hệ thống cung cấp điện phải có dự phòng lớn, dẫn đến đầu tư lớn. Đó là chưa kể nguy cơ ô nhiễm môi trường khi thải loại số lượng lớn các tấm pin mặt trời. Ngay cả điện gió cũng có những ô nhiễm tiếng ồn và ảnh hưởng đến đa dạng sinh học… "Vậy tỷ lệ năng lượng tái tạo trong cơ cấu nguồn điện bao nhiêu là phù hợp?" Theo Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Trần Văn Minh, đây là câu hỏi cần được tính toán cẩn trọng, toàn diện trên cơ sở các yếu tố về kinh tế, kỹ thuật và môi trường khi xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2025 mà Chính phủ phải cân nhắc, xem xét thêm.

Dẫu biết rằng chất lượng tăng trưởng, phát triển bền vững phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ phức tạp trong ít nhất là 1 - 2 năm tới thì vấn đề này càng đặt ra những thách thức gay gắt hơn, vì thế chúng ta không thể quá nôn nóng. Nhưng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, để đất nước không bị tụt hậu thì chắc chắn phải có sự bứt phá vượt bậc hơn nữa. 

Nguyễn Bình