Người yêu Hải Phòng nhất Hà Nội

Mỗi lần thấy tôi từ chối chuyển về sống ở Hà Nội sau ngày nghỉ hưu, cô con gái độc nhất của tôi lại cười buồn và buông một câu sau tiếng thở dài:
“Mẹ là người yêu Hải Phòng nhất Hà Nội”.
Có phải thế không?...
Thấm thoắt đã hơn bốn chục năm với đầy ắp những kỷ niệm vui buồn trên mảnh đất này, tôi đã trở thành cư dân vùng biển. Nhưng để trở thành một người Hải Phòng đích thực, có lẽ phải bắt đầu từ câu chuyện này:
Khoảng những năm 1997 - 1998 gì đó, tôi cũng không còn nhớ rõ lắm, đã có một trận chung kết nẩy lửa giữa hai đội bóng đá cùng ngành: Công an Hà Nội và Công an Hải Phòng, tranh giải vô địch quốc gia tại sân vận động Hàng Đẫy, Hà Nội. Là một “fan” cuồng nhiệt của bóng đá nước nhà, đương nhiên là tôi đã ngồi trước màn hình vô tuyến ngay từ khi bóng chưa khai cuộc.
Tôi còn nhớ, cổ động viên của đội bóng Công an Hải Phòng, với phương tiện giao thông chuyên chở miễn phí, rầm rập từng đoàn trống dong cờ mở, kéo về chiếm lĩnh chật một góc sân vận động Hà Nội. Ngay từ những ngày ấy, cổ động viên đất Cảng đã được đánh giá là những người hâm mộ bóng đá máu lửa vào loại nhất nhì cả nước.
Trận đấu giằng co quyết liệt. Cho đến phút bàn thắng quyết định, sút tung lưới đội bóng Công an Hà Nội ở phút cuối cùng, đem chiếc cúp vô địch Quốc gia về cho đội bóng Công an Hải Phòng, bỗng dưng tôi cũng nhảy dựng lên và reo hò đến khản cả tiếng: “Hải Phòng vô địch, Hải Phòng vô địch!”
Sau thời điểm hưng phấn bất chợt ấy, tôi mỉm cười và ngộ ra một điều: “Chao ôi! Thì ra mình đã thành người Hải Phòng!”...
Rồi như một thói quen, mỗi khi theo dõi tin tức trên truyền hình hay báo chí, cả bản tin thời tiết nữa, tôi quan tâm ngày càng nhiều hơn đến những gì liên quan đến Hải Phòng.
Thủ đô Hà Nội... thành phố TUỔI THƠ của tôi, với biết bao hồi ức từ ngày cắp sách đến trường, với bao con đường góc phố chở nặng kỷ niệm thời thiếu nữ, với bao gương mặt bè bạn thân quen... và mối tình đầu tuổi mười sáu thơm mùi hoa sữa... Tôi chẳng thể bao giờ quên được...
Nhưng còn thành phố Cảng, thành phố cần lao của những năm đầu thế kỷ, thành phố rực rỡ màu đỏ hoa phượng mỗi độ hè về, nơi ôm ấp những kỷ niệm đẫm mùi bom đạn của những năm chiến tranh chống Mỹ, nơi đứa con gái bé bỏng của tôi đã lớn lên và trở thành thiếu nữ?...
Gần như cả cuộc đời tôi đã trôi qua ở đây, lãng đãng cùng tiếng chuông nhà thờ và tiếng còi tàu chạy dài trên dòng sông Cấm. Hải Phòng đã trở thành máu thịt của tôi tự bao giờ?...
Cách đây gần nửa thế kỷ, tháng 10.1964, cầm trên tay tờ quyết định phân công công tác của Bộ Văn hóa, cùng sáu người bạn đồng học, tôi tìm đến Hải Phòng, chập chững đặt những bước chân đầu tiên lên những nấc thang nghệ thuật đầy chông gai.
Khi ấy, những hiểu biết về vùng đất này của tôi, của cả tốp học sinh trường sân khấu được phân công về Hải Phòng công tác hầu như còn rất mơ hồ. Có lẽ hấp lực lớn nhất khiến chúng tôi yên tâm khăn gói tìm đến Hải Phòng là vì vị giám đốc đương nhiệm của Sở Văn hóa thành phố ngày ấy chính là cố bộ trưởng Bộ Văn hóa sau này: nhạc sỹ Trần Hoàn. Chính ông là người đã thắp lửa hy vọng cho chúng tôi và góp phần đưa sân khấu Hải Phòng tiến dần lên những nấc thang mới.
Đến với thành phố biển, lâng lâng niềm vui của những ngày đầu tiên gặp gỡ. Nhưng những cảm nhận ấy mau chóng tan loãng dần khi trong lòng lại trĩu nặng nỗi nhớ nhà, nhớ thương Hà Nội - Nhớ mẹ, nhớ quá chừng, nhớ bạn bè, nhớ mùi hoa sữa nồng nàn dọc bước chân trên đường đi học và nhớ cả tiếng sấu rơi lộp bộp trong mưa...
Chao ôi! Quên sao được đêm đầu tiên xa nhà. Trằn trọc trên gác khu tập thể của Đoàn kịch Hải Phòng (lúc đó còn là Đội kịch thuộc Đoàn văn công tổng hợp), tôi không tài nào nhắm mắt được.
Tiếng chuông nhà thờ thỉnh thoảng lại đánh rơi vào không gian những âm thanh khắc khoải. Và buồn hơn là những tiếng còi tàu giã bến, nghe thổn thức như một tiếng thở dài.
Tôi vùng dậy ra ban công... Gió biển mặn mòi từ xa thổi về và bầu trời đen thẫm đầy sao. Lời bài hát Lòng mẹ, một bài hát Nga được yêu thích hồi đó bỗng nhiên chảy tràn trong nỗi nhớ:
Lòng mẹ tôi ai biết được
Người cho tôi tình thương mến nhiều
Hằng bao đêm Người thao thức
Những mong ta chóng nên người...
Và những giọt nước mắt trong đêm gửi về Mẹ, gửi về Hà Nội - thành phố TUỔI THƠ...
Đội kịch được tăng cường lực lượng diễn viên từ Trường Sân khấu Việt Nam (Khóa I), đã dần được trưởng thành dưới sự chỉ đạo trực tiếp của giám đốc Sở Văn hóa, nhạc sỹ Trần Hoàn. (Chính ông là người đã trực tiếp lên Bộ Văn hóa đề nghị một danh sách diễn viên cụ thể bổ sung cho Đội kịch).
Thời gian là phương thuốc mầu nhiệm. Công việc hối hả đã lôi cuốn tất cả mọi người nhập cuộc. Những vở diễn được liên tục dàn dựng: Lưới thép, Chiều cuối, Tiếng đàn T’rưng, Trong phòng trực chiến... và năm 1965, vở Anh còn sống mãi nhân kỷ niệm một năm ngày mất của anh hùng liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi đã nâng dần phong độ của Đội kịch, để đến tháng 7.1965, khi đã đủ lông đủ cánh, Đoàn văn công tổng hợp Hải Phòng được phiên chế thành hai đoàn nghệ thuật: Đoàn Kịch nói và Đoàn Ca múa.
*
* *
Nhắc lại những kỷ niệm của gần nửa thế kỷ đã qua như để tìm hiểu nguyên nhân vì sao, ngày một ngày hai, người viết bài này đã trở thành một công dân đất Cảng, một người nghệ sỹ thuộc về mảnh đất cần lao lầm lụi của Sóng gầm, Bỉ vỏ, Vỡ bờ (*)...
Từ đây, những nấc thang nghệ thuật kỳ diệu đã rộng mở dưới bước chân hăm hở tìm tòi của nghệ sỹ. Tôi đã cần mẫn gieo trồng trên mảnh đất này tình yêu mê đắm của mình với sân khấu. Từ đây, tôi đã dược chắp cánh vẫy vùng trong sáng tạo.
Mấy thập kỷ đã trôi qua... 1972... 1978... 1980... 1990... cho đến khi buộc phải từ giã ánh đèn sân khấu, cùng với sự giúp đỡ của rất nhiều người, tôi đã kịp ghi được một chút gọi là dấu ấn của mình trong lòng công chúng yêu sân khấu.
Những vở diễn hàng đầu của Đoàn kịch Hải Phòng: Masa, Con cáo và chùm nho, Âm mưu và tình yêu, Rồi sao nữa, Điều bí ẩn trong cô gái... được ghi nhận cùng với hàng loạt nghệ sỹ tài danh một thời.
Thời gian qua đi không bao giờ trở lại. Nhưng hồi ức thì mãi mãi vẫn còn nguyên vẹn, bất chấp thời gian...
Ở đầu dây điện thoại từ Hà Nội, con gái tôi gọi về cho mẹ: “Con chào mẹ, người yêu Hải Phòng nhất Hà Nội. Con chúc mẹ hạnh phúc!”
_______________
(*). Những tác phẩm của nhà văn Nguyên Hồng (Sóng gầm, Bỉ vỏ), Nguyễn Đình Thi (Vỡ bờ).