Nghĩ từ Hemingway
Ernest Hemingway (Nobel văn chương năm 1954) sinh năm 1899, mất năm 1961. Suốt cuộc đời tuy không dài song cũng không lấy gì làm ngắn ấy, giai đoạn sống ở Paris (từ 1921 đến 1926) là giai đoạn giàu ý nghĩa đối với Hemingway: kể từ đây, ông bắt đầu con đường viết văn chuyên nghiệp.

Hemingway đã kể về mình của giai đoạn này trong cuốn tiểu thuyết - hồi ký Hội hè miên man (A Moveable Feast. Phan Triều Hải dịch. Công ty Nhã Nam và NXB Hội nhà văn ấn hành, 2009). Và, với tầm cỡ của một nhà văn được cả văn giới âu Mỹ coi như một “Papa”, những câu chuyện Paris của Hemingway trong Hội hè miên man có lẽ rất đáng để người đọc hôm nay miên man nghĩ.
Câu chuyện về con đường trở thành nhà văn chuyên nghiệp chẳng hạn. Trong tác phẩm, Hemingway hơn một lần nhắc độc giả nhớ rằng ông đã bỏ việc viết báo cho tờ Ngôi sao Toronto - một công việc đảm bảo cho ông có được cuộc sống tương đối dễ chịu - để chỉ viết văn. Không phải lúc nào những truyện ngắn ông viết ra cũng đều được các báo chấp nhận in và Hemingway đã khá nhiều phen phải khốn đốn vì điều đó. Một quyết định mạo hiểm, thậm chí điên rồ? Nhưng đó là con đường Hemingway đã chọn, và tính chất chuyên nghiệp của một nhà văn nơi ông thể hiện rất rõ qua sự chọn lựa này: nhà văn chuyên nghiệp phải là người không làm gì khác ngoài việc viết văn; danh tiếng của anh ta, cuộc sống của anh ta là những cái được tạo dựng chỉ bằng việc viết văn chứ không thể bằng bất cứ một loại hoạt động nào. Có thể bổ sung cho câu chuyện về nhà văn chuyên nghiệp ở đây một chi tiết khá vui: Hemingway cùng một vài người bạn như Ezra Pound (nhà thơ, dịch giả, nhà phê bình lớn của văn học Anh - Mỹ nửa đầu thế kỷ XX), Natalie Barney v.v... nghĩ ra việc thành lập một tổ chức lấy tên Bel Esprit (Trí tuệ Đẹp), nhiệm vụ ban đầu là kêu gọi mọi người “đóng góp một phần những gì kiếm được vào một quỹ nhằm giải thoát ngài Eliot ra khỏi ngân hàng và cho ông ấy tiền để làm thơ” (tr. 144). Theo lời kể của Hemingway, lý do của việc này là Ezra Pound rất ưu tư về T. S. Eliot (Nobel văn chương năm 1948), người “đang làm cho một ngân hàng ở London và không đủ thời gian lẫn giờ giấc thuận tiện cho việc hành nghề thi sĩ” (tr. 143). Tình bạn, sự quan tâm giúp đỡ, sự lân tài giữa các nhà văn lớn v.v... tất cả đều có thể “đọc” được ở chi tiết này, nhưng tôi chỉ muốn “lẩy” ra từ đây một ý: như vậy đấy, “người ta” quan niệm rằng nếu anh đã viết văn thì hãy tập trung vào việc viết văn, kiêm thêm một nghề khác nào đó chỉ thêm bất lợi cho nghề văn mà thôi!
Đã có câu chuyện về nghề văn, ắt phải có câu chuyện về những nguyên tắc và những “chiêu thức” của việc hành nghề. Trong Hội hè miên man, Hemingway dành một số lượng trang tương đối lớn để viết về quan hệ bạn bè giữa ông và Scott Fitzgerald, tác giả của Đại gia Gatsby. Và dưới đây, xin trích một đoạn rất đáng chú ý: “Ngồi ở quán Closerie des Lilas, anh kể tôi nghe anh đã viết những cái truyện theo anh là hay như thế nào, loại truyện nào thì thuộc gu tờ Post, và anh đã chữa lại những cái truyện ấy để gửi đi, anh rất biết cách thay đổi chúng thành những truyện dễ bán cho các tạp chí. Tôi đã choáng khi nghe thế và nói, với tôi làm vậy là đánh đĩ. Anh bảo đúng là đánh đĩ, nhưng phải làm thế để có nhuận bút đặng nuôi việc viết sách nghiêm túc. Tôi nói tôi tin chỉ có một cách duy nhất để viết mà không khiến tài năng của mình bị hủy hoại, đấy là viết ra những gì hay nhất. Anh bảo trước tiên anh viết những truyện thực sự nghiêm túc, xong đâu đó rồi mới thay đổi cấu trúc và viết lại, nên chẳng suy suyển gì đến anh” (tr. 195). Quan điểm của Hemingway về việc “chỉ có một cách duy nhất để viết mà không khiến tài năng của mình bị hủy hoại, đấy là viết ra những gì hay nhất”, dĩ nhiên, là quan điểm hành nghề đúng tới mức “không chê vào đâu được”. Nhưng quan điểm hành nghề của Scott Fitzgerald - khỏi phải nhấn mạnh rằng ông là một tác giả lớn của văn học hiện đại Mỹ - cũng rất đáng tham khảo. Cung và cầu, người bán và người mua, sản phẩm văn học và thị trường tiêu thụ văn học, tác phẩm “dùng ngay” và tác phẩm lâu dài v.v... dường như S. Fitzgerald quá hiểu những quan hệ chế định lẫn nhau này, quá hiểu và rất biết cách nương theo chúng sao cho được cả tiền bạc và văn chương. Và điều đó cho ta một lời giải thích rằng tại sao trong lúc văn hữu nhiều người khó khăn đến thế thì ông lại có một đời sống vương giả, thừa mứa tiệc tùng và thừa mứa chất cồn đến thế!
Không thể không nói tới câu chuyện về cái đói. Sống chỉ bằng nghề văn và sống trong lúc chưa phải là một tác giả được săn đón nên việc thường xuyên bị đói với Hemingway cũng là điều khá dễ hiểu. Vì cạn tiền và để bớt một miệng ăn, ông vẫn hay bịa với vợ rằng có người nào đó mời đi ăn trưa, rồi ra ngoài và tìm cách chiến thắng cái đói. Phải tránh xa những đường phố mà mùi thức ăn bốc lên hấp dẫn. Tốt nhất là đến bảo tàng Luxembourg, vì ở đó “thanh tịnh”, cũng vì: “Với một cái bụng rỗng không, ruột trống huơ trống hoác, những bức tranh trông sẽ sắc nét hơn, rõ hơn và đẹp hơn. Tôi nghiệm thấy khi đói, tôi cảm được tranh Cezanne rõ hơn và hiểu chính xác cách ông vẽ phong cảnh như thế nào” (tr. 93). Thêm một chút tinh thần AQ khi bị cái đói hành hạ cũng không thừa: “Đói là một phương cách tốt và nó có thể dạy ta nhiều điều. Chừng nào những người khác không hiểu được điều đó thì ta vẫn còn nắm được ưu thế trước họ. Chắc chắn như thế, tôi nghĩ. Giờ thì tôi đi trước bọn họ rất xa vì tôi thường xuyên thiếu ăn” (tr. 101). Nhưng khi có điều kiện để tự cho phép mình có “một bữa no” - được nhận nhuận bút chẳng hạn - Hemingway cũng rất biết tận hưởng. Hãy đọc thử đoạn Hemingway kể về bữa ăn ngay sau khi ông được một tờ báo Đức trả nhuận bút: “Bia rất lạnh và thật đê mê. Món pommes à l’huile được ướp chắc thịt và dầu ô liu cực ngon. Tôi xay tiêu đen lên khoai tây và nhúng bánh mì vào dầu ô liu. Làm một ngụm bia lớn rồi ăn và uống thật chậm rãi. Xong món pommes à l’huile tôi gọi thêm lượt nữa cùng một cervelas. Đó là một loại xúc xích to nặng như xúc xích Đức được chẻ đôi và dưới một lớp xốt mù tạt đặc biệt. Tôi vét sạch dầu cùng tất cả nước xốt ăn cùng bánh mì và chậm rãi uống, và khi bia không còn lạnh nữa tôi uống cạn rồi gọi thêm một demi và ngắm bia rót ra cốc. Có vẻ như bia lần này còn lạnh hơn cả distingue và tôi uống hết ngay một nửa” (tr. 98). Không ít nhà văn Việt Nam đã từng viết về chuyện ăn uống (Tản Đà, Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Bằng...) nhưng thấy hiếm ai viết theo kiểu này: cái cảm giác sung sướng thỏa mãn tận độ của nhục thể khi được ăn ngon và ăn no. Có lẽ chăng, sợ bị mang cái tiếng phàm phu tục tử nên nhà văn Việt Nam khi viết về chuyện ăn uống thường nghiêng về phương diện “văn hóa nghệ thuật”, phương diện “tinh thần” của cái sự ăn; gảy gót, điệu đàng, chứ không hùng dũng khí thế như nhà văn của đất nước cờ hoa?
Và sau rốt, là câu chuyện chung về Paris, cái rốn của văn nghệ thế giới giai đoạn giữa hai cuộc Thế chiến đã được Hemingway vẽ lên khá sinh động trong Hội hè miên man. Vào thời đó, những gương mặt vào loại sáng giá nhất của nền nghệ thuật thế giới đương đại đều tề tựu tại Paris. Họ đến từ khắp bốn phương trời: là người Nga, người Tây Ban Nha, người Bulgaria, người Anh, người Ireland, người Mỹ, người Tiệp, người Romania, người Do Thái v.v... Họ đến và cùng những nghệ sĩ ưu tú của nước sở tại biến Paris thành cái chảo lửa của tinh thần sáng tạo, nơi những ý tưởng cách tân mạnh mẽ nhất, cách mạng nhất, ngông cuồng nhất được hun nóng, được tự do cọ xát đua tranh, để rồi kết quả là diện mạo của nghệ thuật trên hầu khắp các lĩnh vực phải thay đổi một cách cơ bản. Tôi không rõ vào thời điểm ấy nhà nước Pháp có chính sách gì đó để chiêu mộ nghệ sĩ nước ngoài không, nhưng qua cách Hemingway kể về công việc của mình, rằng ông thường xuyên ngồi cả buổi để viết tại nhà hàng mà không bao giờ sợ bị kêu ca (dù chỉ dùng một tách cà phê và chiếm trọn của họ một bàn); rằng ở đó có những nhân viên phục vụ hết sức ưu ái nghệ sĩ, luôn rót rượu vào ly của họ nhiều hơn mức cho phép v.v... đủ để thấy rằng Paris quả là một nơi chốn lý tưởng cho người hoạt động nghệ thuật. Và khi Hemingway kết thúc cuốn sách của mình với những câu: “Không bao giờ có thể kết thúc với Paris và kỷ niệm của mỗi người, những ai từng sống trong thành phố này, không ai giống ai. Chúng ta luôn quay lại đó cho dù chúng ta có là ai, hay thành phố có đổi thay thế nào đi nữa, và dù có những khó khăn hay thuận lợi, thành phố vẫn trong tầm tay. Paris luôn xứng đáng với điều đó, và ta nhận được đầy đủ cho những gì ta dâng tặng nó”, tôi chợt nghĩ tới thủ đô ngàn năm văn hiến của chúng ta. Đã có nghệ sĩ nào cỡ Hemingway viết về Hà Nội với tinh thần như vậy? Đã có lúc nào và tới khi nào thì Hà Nội trở thành cái rốn của văn nghệ thế giới, như Paris của Hemingway những năm 1921 - 1926?