Bộ Xây dựng:

Giải pháp quản lý chi phí xây dựng “chưa theo kịp thực tiễn”

- Thứ Sáu, 12/08/2022, 06:16

Trong văn bản số 3102/BXD-KTXD gửi Thủ tướng về các khó khăn, vướng mắc trong quản lý chi phí đầu tư xây dựng và giải pháp tháo gỡ, Bộ Xây dựng xác nhận, thực tế biến động quá nhanh nên các giải pháp vẫn chưa theo kịp thực tiễn.

Mặt bằng giá vẫn ở mức cao

Trước đó, trong số báo 216 ra ngày 4.8, Báo Đại biểu Nhân dân đăng bài “Nhà thầu cao tốc Bắc - Nam mỏi mòn chờ cứu trong “bão giá”, phản ánh tình trạng các nhà thầu kiệt quệ do giá vật liệu xây dựng tăng mạnh, trong khi việc công bố giá vật liệu xây dựng, chỉ số giá chậm, không theo sát thực tế. Đại diện doanh nghiệp mong muốn cơ quan quản lý có giải pháp cụ thể, trong đó có việc sớm điều chỉnh định mức, đơn giá cho phù hợp giúp doanh nghiệp có thể “sống” để làm việc.

Theo Bộ Xây dựng, từ cuối quý IV.2020 đến quý I.2022, giá nguyên, nhiên liệu, vật liệu xây dựng có xu hướng biến động tăng, trong đó có thép, xi măng, nhựa đường, xăng, dầu, cát, đất đắp.

Từ tháng 4.2022 đến nay, giá nhiên liệu và một số vật liệu xây dựng chủ yếu bắt đầu giảm, trong đó giá thép giảm mạnh nhất, hiện ở mức 15.000 - 16.000 đồng/kg, tương đương giá thép quý II.2021. Tuy nhiên, so với mặt bằng giá quý IV.2020, tại thời điểm tháng 7.2022, giá nhiên liệu và một số vật liệu chủ yếu vẫn ở mức cao: giá thép xây dựng cao hơn khoảng 25%; giá nhựa đường cao hơn khoảng 40%; giá xi măng cao hơn 15 - 20%; giá dầu diesel cao hơn gần 100%.

Việc giá vật liệu tăng mạnh đã tác động trực tiếp làm tăng chi phí đầu tư xây dựng của các công trình, dự án. Theo số liệu các địa phương công bố, chỉ số giá xây dựng quý I.2022 tăng trung bình khoảng 10% so với thời điểm gốc năm 2020 (thời điểm chưa có biến động), trong đó, chỉ số giá xây dựng một số công trình tại một số địa phương tăng 15 - 20%. Điều này đã tác động lớn đến công tác quản lý thực hiện hợp đồng xây dựng giữa chủ đầu tư và các nhà thầu thi công.

Cụ thể, đối với hợp đồng trọn gói đang triển khai, giá vật liệu xây dựng, nhiên liệu tăng bất thường tác động chủ yếu đến các hợp đồng được ký trước quý IV.2020 và hợp đồng có quy mô nhỏ dưới 20 tỷ đồng được ký kết từ năm 2021. Ngoài ra, một số hợp đồng thi công chậm tiến độ do các nguyên nhân khách quan như chậm bàn giao mặt bằng, ảnh hưởng của dịch Covid-19… dẫn đến nhà thầu rơi vào giai đoạn giá tăng cao, khiến nhà thầu gặp khó khăn, thi công cầm chừng.

Đối với hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh (hầu hết đường cao tốc Bắc - Nam phía Đông, các công trình thi công sau năm 2020), thực tế gặp một số khó khăn như: nhiều địa phương công bố giá vật tư, vật liệu, chỉ số giá xây dựng không sát diễn biến thị trường, danh mục vật liệu xây dựng công bố không đầy đủ. Phạm vi điều chỉnh giá trong hợp đồng bị giới hạn do các bên không lường hết rủi ro về trượt giá và tình trạng thiếu nguồn cung đối với một số vật liệu xây dựng chủ yếu như đất đắp, cát, đá, nhất là dự án cao tốc phía Đông. Một số hợp đồng không xác lập việc điều chỉnh giá với phần vật liệu đắp nền (chiếm tỷ trọng 15 - 25% giá hợp đồng).

Ngoài ra, việc lựa chọn phương pháp, phạm vi, đối tượng, nguồn dữ liệu để áp dụng trong hợp đồng chưa phù hợp, không phản ánh đúng thực tế biến động giá thị trường.

Theo Bộ Xây dựng, dù giá vật liệu đã hạ nhiệt song mặt bằng giá vẫn ở mức cao so với năm 2020. Nguồn ITN
Theo Bộ Xây dựng, dù giá vật liệu đã hạ nhiệt song mặt bằng giá vẫn ở mức cao so với năm 2020
Nguồn: ITN

Tăng tần suất công bố giá

Trước thực tế trên, Bộ Xây dựng đã có nhiều giải pháp như gửi văn bản, tổ chức hội nghị trực tuyến yêu cầu các địa phương thực hiện nghiêm việc công bố giá theo quy định, tăng tần suất công bố và thường xuyên cập nhật, điều chỉnh công bố giá vật liệu xây dựng, chỉ số giá.

Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Giao thông Vận tải tổ chức 7 đoàn hướng dẫn, giám sát, kiểm tra việc công bố giá tại 7 địa phương (Quảng Ninh, Thanh Hóa, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Đồng Nai, Cần Thơ, Tiền Giang) về việc chấp hành quy định công bố giá, phù hợp yêu cầu thực tế…

Nhờ đó, công tác tổ chức xác định, công bố giá xây dựng, chỉ số giá xây dựng tại các địa phương đã có chuyển biến tích cực. 44 địa phương công bố giá vật liệu xây dựng hàng tháng, 19 địa phương công bố giá hàng quý.

Tuy nhiên, Bộ Xây dựng thừa nhận, dù giá vật liệu xây dựng đã bắt đầu hạ nhiệt, song thực tế biến động quá nhanh nên các giải pháp vẫn chưa theo kịp thực tiễn. Do đó, Bộ đề nghị đối với hợp đồng đã ký trọn gói, đơn giá cố định, theo quy định chỉ được điều chỉnh trong trường hợp bất khả kháng hoặc hoàn cảnh thay đổi. Trong đó, tiêu chí này trong các văn bản quy phạm pháp luật lại không định lượng, không quy định cụ thể “biến động giá vật liệu xây dựng” có thuộc các trường hợp này.

“Nếu đề nghị sửa đổi, cụ thể hóa các quy định này tại các luật có liên quan, thời gian sẽ kéo dài đến năm 2023 - 2024. Giải pháp này không còn phù hợp với giai đoạn hiện nay khi giá vật liệu xây dựng đang có xu hướng giảm. Hiện, Bộ Xây dựng đang phối hợp cùng các bộ, ngành, địa phương tổng hợp số liệu thực hiện của các hợp đồng để báo cáo Chính phủ, Thủ tướng”, Bộ Xây dựng nêu rõ.

Đối với hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh, để khắc phục các khó khăn hiện nay, Bộ đề nghị Chính phủ giao UBND cấp tỉnh chủ động tổ chức kiểm tra, rà soát, đánh giá tổng thể việc công bố giá vật liệu xây dựng, chỉ số giá xây dựng trên địa bàn từ năm 2021 đến nay, bảo đảm công bố sát giá thị trường, công bằng, minh bạch. Trường hợp giá vật liệu xây dựng, chỉ số giá đã công bố chưa phản ánh đúng biến động thị trường, các địa phương bổ sung việc công bố, tăng tần suất sớm hơn, theo tháng, bảo đảm theo quy định.

Bên cạnh đó, Chính phủ cần giao các Bộ: Xây dựng, Tư pháp, Giao thông Vận tải, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư giám sát, đánh giá kết quả thực hiện của các địa phương, kịp thời tham mưu giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.

Đồng thời, giao cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đầu tư chỉ đạo chủ đầu tư các dự án báo cáo đánh giá khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân; xác định rõ trách nhiệm các bên và cơ sở pháp lý về việc điều chỉnh hợp đồng (kể cả hợp đồng BOT), đề xuất giải pháp trên cơ sở chủ động xử lý những vấn đề thuộc thẩm quyền; xác định mức độ ảnh hưởng đến tổng mức đầu tư đã phê duyệt, cân đối các nguồn vốn, báo các các bộ liên quan để tổng hợp, báo cáo Chính phủ.

Đan Thanh