“Luật pháp của ta là luật pháp thực sự dân chủ” 

Xem với cỡ chữ
Bài viết “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động lập pháp, góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội, GS.TS. Vương Đình Huệ đã phản ánh đúng, toàn diện và sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đồng thời, nêu bật những vấn đề cốt lõi trong hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phân tích sâu sắc việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động lập pháp, để “luật pháp của ta là luật pháp thực sự dân chủ”.
Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I – Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau Tổng tuyển cử ngày 6.1.1946, tại Nhà hát lớn Hà Nội
Ảnh: TL

Phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội

Bài viết có tính khái quát cao, làm rõ những luận điểm khoa học về tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng luật pháp, đồng thời, phản ánh được những vấn đề rất cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam trong tiến trình đổi mới đất nước. Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về lập pháp đã được phân tích sâu sắc trong bài viết, trước hết là tinh thần dân tộc; về chủ quyền Nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân; về tính tối thượng của pháp luật; về tôn trọng luật pháp quốc tế; về tính dân chủ trong quá trình xây dựng luật pháp.

Để vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động lập pháp, bài viết nhấn mạnh đến vấn đề học tập, vận dụng tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong việc hoàn thiện hệ thống luật pháp, trên cơ sở đó đề ra những yêu cầu về xây dựng và hoạt động pháp luật trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN gồm: Bảo đảm hành lang pháp lý để Nhà nước được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và luật pháp; bảo đảm việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân; bảo đảm quyền lực nhà nước được tổ chức và thực hiện theo nguyên tắc phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực; bảo đảm một cơ chế bảo vệ Hiến pháp và luật pháp phù hợp; bảo đảm thích ứng với những tác động của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư.

Trên cơ sở những vấn đề lý luận, phân tích một cách khoa học tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, GS.TS. Vương Đình Huệ nhấn mạnh vấn đề thực tiễn xây dựng hệ thống luật pháp và hoạt động pháp luật của Việt Nam trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật về chủ quyền biên giới quốc gia, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời, giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước; xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp về tổ chức bộ máy nhà nước, xây dựng cơ sở pháp lý để xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, thực hiện tốt chức năng của Nhà nước, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường, xã hội.

Cùng với đó là xây dựng và hoàn thiện luật pháp về quyền con người, quyền công dân, thực hiện phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng; xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp về phát triển bền vững kinh tế - xã hội - môi trường, tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng của khoa học, công nghệ, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, bảo đảm công bằng xã hội với bảo vệ môi trường; xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp về hội nhập quốc tế; tiếp tục đổi mới quy trình lập pháp, mở rộng dân chủ trong xây dựng luật pháp để các quy định của luật có tính khả thi, phù hợp với thực tiễn và có căn cứ khoa học; tổ chức thi hành pháp luật cho tốt; tiếp tục tuyên truyền, phổ biến, lan tỏa, phát huy tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh trong hoạt động pháp luật nói riêng và trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta nói chung.

Điều quan trọng, theo GS.TS. Vương Đình Huệ là, phát triển kinh tế bao giờ cũng đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, “xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai với một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về Nhân dân, do Nhân dân và phục vụ lợi ích của Nhân dân”1.

Nói tóm lại, đây là một Báo cáo khoa học công phu, nghiêm túc, có nhiều ý mới, nhận định mới, sáng tạo, mang tính bao quát về vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Mọi người đều có quyền tham gia xây dựng luật pháp

Thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền” do các chuyên gia về hiến pháp và luật pháp người Đức và người Áo nêu lần đầu vào thế kỷ XIX. Từ đấy, thuật ngữ “pháp quyền” được áp dụng tại nhiều nước theo một tiêu chí như một chế độ của một Nhà nước và nó có thể so sánh được với quá trình phát triển khái niệm “nhân quyền”. Khi nói đến “pháp quyền” là nói đến hệ thống luật pháp tiêu biểu cho quyền lực của một Nhà nước, cho bản chất của một chế độ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng những tư tưởng, quan điểm về pháp quyền, nhân quyền (quyền con người), về các quyền tự do, dân chủ, về bản chất, vai trò của luật pháp trong xã hội. Trong hành trình tìm đường cứu nước, Người đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy ở đó chí hướng mà nhân loại sẽ bước đi, tìm thấy ở đó chủ nghĩa nhân đạo và tính nhân văn cao cả. Người lên án chế độ thực dân, đế quốc độc đoán, hà khắc, phản dân chủ, áp bức các dân tộc thuộc địa. Trong “Yêu sách của nhân dân An Nam”, viết năm 1919, ký tên Nguyễn Ái Quốc, Người yêu cầu phải cải cách nền công lý ở Đông Dương theo hướng người bản xứ cũng được quyền hưởng những bảo đảm về mặt pháp luật như người châu Âu; xóa bỏ hoàn toàn và triệt để các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong Nhân dân Việt Nam; Người yêu cầu phải để cho Nhân dân Việt Nam các quyền tự do, như tự do ngôn luận, tự do lập hội và hội họp, tự do giáo dục và đặc biệt là “thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật”2. Năm 1922, trong bài “Việt Nam yêu cầu ca”, Người đã thể hiện nội dung những yêu sách trên để phổ biến rộng rãi:

“Bảy xin Hiến pháp ban hành,

Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”3.

Chủ nghĩa nhân văn cao cả trong tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa lập hiến đã được vận dụng ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công năm 1945. Ngay khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) ra đời, một trong những nhiệm vụ cấp bách mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời (ngày 3.9.1945) là: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay một cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống…”4. Và chỉ 10 tháng sau, Quốc hội do Nhân dân bầu ra qua cuộc Tổng tuyển cử lịch sử đó đã thông qua Hiến pháp năm 1946. Hiến pháp dân chủ đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển của Nhà nước hợp hiến Việt Nam.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà nước ta mang bản chất giai cấp công nhân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Vì vậy, phải khẳng định và bảo đảm quyền lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Nhà nước ta mang tính Nhân dân, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của Nhân dân, dựa trên khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mà nòng cốt là liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức do giai cấp công nhân lãnh đạo.

Xây dựng Nhà nước hợp hiến, hợp pháp, Nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến pháp và luật pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định pháp luật là phương tiện hữu hiệu để quản lý Nhà nước, duy trì trật tự xã hội. Giữa pháp luật và Nhà nước phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Theo Người, để tạo nên sự ổn định của Nhà nước, làm cho bộ máy nhà nước vận hành đúng quỹ đạo, phát huy được hiệu lực quản lý, điều hành, thì phải xây dựng được hệ thống luật pháp5 đúng đắn. Người nói rằng, luật pháp của ta là luật pháp thực sự dân chủ, bảo vệ quyền tự do dân chủ rộng rãi cho Nhân dân. Mọi người đều có quyền tham gia xây dựng luật pháp, bình đẳng trước pháp luật và tuân thủ pháp luật. Các cơ quan nhà nước, các cán bộ, công chức của Nhà nước phải làm gương trong việc tham gia soạn thảo luật pháp và làm gương trong việc thi hành pháp luật.

Trong hệ thống chính trị nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là người lãnh đạo, vừa là một bộ phận của hệ thống ấy. Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên) là những bộ phận cấu thành cơ bản. Vì vậy, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải đặt trong bối cảnh đổi mới đồng bộ các thành tố cơ bản của cả hệ thống chính trị, trong mối quan hệ tác động qua lại giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.

Sự hoàn thiện và phát triển của Nhà nước và luật pháp không tách rời sự phát triển, tiến bộ của nền văn minh nhân loại và sự phát triển văn hóa - xã hội cụ thể của quốc gia trong từng thời kỳ (trình độ dân trí, vấn đề dân chủ và công bằng xã hội, vấn đề quyền con người và quyền công dân…). Đó là mối quan hệ biện chứng.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc đến hoạt động của Quốc hội. Người đánh giá cao hoạt động có hiệu quả của Quốc hội. Người mong muốn Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp, quyết định những vấn đề cơ bản, quan trọng của đất nước và thực hiện quyền giám sát tối cao. Để xứng đáng là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Người yêu cầu Quốc hội phải luôn luôn đổi mới và sáng tạo trong hoạt động lập pháp và trong việc giám sát thi hành pháp luật; đổi mới cách làm, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, xứng đáng được Nhân dân tin yêu và ủng hộ. Điều quan trọng là xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải dựa vào lực lượng của Nhân dân, phát huy dân chủ XHCN; phải xuất phát từ nguyện vọng và lợi ích chính đáng của Nhân dân và dựa trên nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân.

_____________

1. GS.TS. Vương Đình Huệ: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động lập pháp góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Báo Đại biểu Nhân dân, số 201, ngày 20.7.2021.

2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 1, tr.436.

3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 1, tr.438.

4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 4, tr. 8.

5. Giữa “luật pháp” và “pháp luật” tuy thống nhất, nhưng không hẳn đồng nhất. Luật pháp là văn bản luật, soạn thảo luật, còn pháp luật là thi hành (hành pháp), không thể viết lẫn lộn giữa luật pháp và pháp luật. Chữ Anh, luật pháp viết là “law” (danh từ riêng số ít), còn pháp luật viết là “laws”, (danh từ chung số nhiều).                         

PGS.TS. Đàm Đức Vượng
Nguyên Phó Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng; nguyên Chánh Văn phòng, Vụ trưởng, Thư ký Khoa học chuyên trách Hội đồng Lý luận Trung ương; Viện trưởng Viện Khoa học Nghiên cứu Nhân tài Nhân lực (ISSTH).