Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) đã khắc phục bất cập trong đánh giá tác động môi trường

THÚY HẰNG thực hiện 05/04/2015 08:18

Luật Bảo vệ môi trường đã được QH thông qua tại Kỳ họp thứ Bảy, QH Khóa XIII. NGUYÊN VỤ TRƯỞNG VỤ THẨM ĐỊNH VÀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG TS NGUYỄN KHẮC KINH khẳng định, những điểm mới trong Luật sẽ khắc phục bất cập dẫn đến môi trường bị suy thoái do quy trình đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC), đánh giá tác động môi trường (ĐTM).

- Thưa Ông, tại Kỳ họp thứ Bảy, QH Khóa XIII đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi), trong đó quy định về ĐMC và ĐTM?

- Cái được lớn nhất của Dự luật đã quy định đối tượng phải thực hiện ĐMC, ĐTM thay vì đối tượng phải lập báo cáo ĐMC, ĐTM như Luật hiện hành. Điều này chứng tỏ Dự luật đã nhận thức đúng hơn về quy mô công việc mà ĐMC và ĐTM phải làm. Nghĩa là, ĐMC hay ĐTM là một quá trình gồm nhiều công đoạn mà trong đó lập báo cáo ĐMC, ĐTM chỉ là công việc cuối cùng của quá trình này.

Nhận thức này rất quan trọng bởi vì từ đó sẽ thấy được rằng, để làm tốt công tác ĐMC, ĐTM cần phải có điều kiện cần thiết về kinh phí và thời gian… Theo kinh nghiệm quốc tế, để thực hiện ĐMC cho một chiến lược, một quy hoạch hay một kế hoạch tổng thể như của Việt Nam chẳng hạn - thường được thế giới gọi chung là “quyết định mang tính chiến lược” - thông thường phải cần đến một vài triệu USD và một vài năm. Còn ở ta, vì quan niệm công việc của ĐMC, ĐTM chỉ đơn giản là việc lập một báo cáo ĐMC hay báo cáo ĐTM nên kinh phí và thời gian đã và đang bỏ ra là quá ít, dẫn đến chất lượng hạn chế của ĐTM, ĐMC. Nếu thực hiện đúng đối tượng như Dự luật này thì tình hình có thể được cải thiện hơn rất nhiều.

- Vậy theo Ông, những điểm cần phải tiếp tục sửa đổi là gì?

- Theo tôi, lý do chủ yếu xuất phát từ những bất ổn mang tính hệ thống trong cách tiếp cận, trong phương pháp luận. Chẳng hạn, việc giải thích từ ngữ là vô cùng quan trọng nhưng Dự luật cho thấy nhiều định nghĩa không ăn khớp với nội dung. Định nghĩa về ĐMC của Dự luật là chưa chính xác, không thỏa đáng vì hoàn toàn giống định nghĩa về ĐTM. Tức là ĐMC cũng là “việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường” trong khi ĐMC về bản chất là phải dự báo những vấn đề môi trường cốt lõi - những vấn đề môi trường mang tầm cỡ chiến lược chứ không thể dự báo (đánh giá) các tác động cụ thể như ĐTM đối với dự án đầu tư.
ĐMC và ĐTM là hai quy trình hoàn toàn khác nhau mà lại định nghĩa tương tự nhau là hoàn toàn phi khoa học và không thể nào thực hiện được trong thực tế. Như vậy, ĐMC không thể có chất lượng và phát huy hiệu quả đích thực.

- Ngoài định nghĩa ra thì còn bất ổn gì theo Ông là “mang tính hệ thống” mà nếu không được chỉnh sửa sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ quá trình thực hiện ĐMC, ĐTM, thưa Ông?

- Ví dụ, bất ổn liên quan đến thời điểm thực hiện ĐMC. Theo tôi, có thể những người viết Luật BVMT 2005 và sửa Luật này đã chưa quán triệt đầy đủ thế nào là “thực hiện đồng thời” đối với ĐMC. Thế giới hiện có hai cách tiếp cận thực hiện ĐMC phổ biến: cách “đi đồng thời”- tức là ĐMC được thực hiện đồng thời với việc lập CQK và cách “đi sau” - tức là ĐMC được thực hiện sau khi đã có CQK. Dựa vào kinh nghiệm của Liên minh châu Âu (EU), Việt Nam đã chọn cách “đi đồng thời” và đã đưa vào Luật BVMT 2005. Dự luật sửa đổi cũng quy định “ĐMC phải được thực hiện đồng thời với quá trình xây dựng CQK” (khoản 2, Điều 14). Tuy nhiên, nội dung báo cáo ĐMC lại thể hiện theo cách “đi sau” khi yêu cầu báo cáo ĐMC phải có nội dung “đề xuất điều chỉnh CQK”. Trong khi đó, theo Dự luật sửa đổi, ĐMC phải do cơ quan xây dựng CQK thực hiện (đồng thời với việc xây dựng CQK), nếu trong quá trình thực hiện ĐMC thấy có nội dung nào của CQK cần điều chỉnh cho phù hợp với kết quả ĐMC thì cơ quan xây dựng CQK có quyền và có nghĩa vụ phải điều chỉnh ngay theo cách “đi đồng thời”. Vậy tại sao phải có đề nghị điều chỉnh và đề nghị với ai khi báo cáo ĐMC cũng chính là của cơ quan xây dựng CQK?! Như vậy là đã có sự lộn xộn về phương pháp luận của ĐMC, mà đã lộn xộn như vậy thì chắc chắn là sẽ không thể có hiệu quả cho cách “đi đồng thời” đã lựa chọn.

- Vậy theo Ông trong Dự luật còn có điểm nào chưa hợp lý cần tiếp tục được chỉnh sửa, thưa Ông?

- Chẳng hạn, theo quy định hiện hành thì việc thực hiện ĐTM, đặc biệt là việc phê duyệt báo cáo ĐTM hầu hết chỉ được tiến hành sau khi đã có quyết định về địa điểm dự án. Điều này không đúng với bản chất và nguyên tắc của ĐTM, khiến việc thực hiện ĐTM chỉ còn mang tính vuốt đuôi và hình thức. Vậy mà, sự bất cập này đã tiếp tục được luật hóa trong Dự luật sửa đổi.

Theo tôi, phải tới 80% giá trị của ĐTM là để phục vụ cho việc lựa chọn địa điểm của dự án. Nếu làm ĐTM sau khi đã có quyết định địa điểm của dự án thì gần như là vô nghĩa. Riêng đối với các dự án về thăm dò, khai thác khoáng sản thì điều này còn chấp nhận. Nhưng với các dự án khác thì việc thực hiện ĐTM và phê duyệt báo cáo ĐTM chỉ yêu cầu tiến hành trước khi cấp giấy phép xây dựng công trình là vô nghĩa. Bởi lẽ, để xin cấp giấy phép xây dựng công trình thì địa điểm dự án đã được phê duyệt từ lâu rồi, chủ đầu tư đã bỏ ra bao nhiêu tiền của rồi mà lúc ấy mới thực hiện ĐTM và phê duyệt báo cáo ĐTM là đã quá muộn và sẽ rất khó để bác bỏ dự án.

Hơn nữa, theo Dự luật thì thời điểm phê duyệt báo cáo ĐTM của dự án còn có những chỗ quá mù mờ sẽ dễ dẫn đến việc tùy tiện khi ban hành các văn bản dưới Luật như thời gian vừa qua. Chẳng hạn, khoản 2, Điều 20 quy định: “ĐTM phải thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư của dự án” – như vậy thì không rõ là khi nào? Hoặc có chỗ hết sức phi lý. Ví dụ, theo khoản 2, Điều 27 thì “Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM là căn cứ để cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư dự án”. Nếu mới có chủ trương đầu tư, tức là chưa có dự án đầu tư, thì lấy đâu ra căn cứ để làm ĐTM? Quy định này là hết sức phi lý. Thời điểm thực hiện ĐTM và phê duyệt báo cáo ĐTM là vấn đề cốt lõi, vì thế bắt buộc phải tiến hành trước khi quyết định địa điểm dự án - có như vậy ĐTM mới thật sự ý nghĩa và hiệu quả.

- Xin cảm ơn Ông!

    Nổi bật
        Mới nhất
        Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) đã khắc phục bất cập trong đánh giá tác động môi trường
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO