Luận cương mới về chủ nghĩa xã hội 

Xem với cỡ chữ
Đào Duy Quát - Nguyên Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương

Với tầm cao tư tưởng lý luận và thực tiễn, bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có ý nghĩa như một luận cương mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam trong thế kỷ XXI. Bài viết đã nâng tầm nhận thức, củng cố niềm tin, khẳng định lý tưởng, khơi dậy tình cảm, khát vọng, cổ vũ động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thực hiện thắng lợi mục tiêu, khát vọng tầm nhìn đến 2045: Việt Nam trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Củng cố niềm tin, khẳng định lý tưởng

Những tư tưởng và tình cảm lớn trong bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có tác động lan tỏa, thấm sâu, nâng tầm tư tưởng chính trị, củng cố niềm tin, khẳng định lý tưởng, con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta lựa chọn, khơi dậy tình cảm, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, cổ vũ toàn Đảng, toàn quân, toàn dân phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Bài viết tập trung luận giải tính tất yếu của chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam, nhất là thời kỳ sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào, thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm, thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Các thế lực chống Cộng sản, cơ hội chính trị thì hí hửng vui mừng, thừa cơ để xuyên tạc, chống phá. Trong hàng ngũ cách mạng, cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa xã hội, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ đó, họ cho rằng, ta chọn đường sai, cần phải đi con đường khác... Từ những biểu hiện trên, bài viết của Tổng Bí thư đã tập trung phân tích, lý giải bản chất, thực trạng của chủ nghĩa tư bản hiện đại, nhất là từ năm 1991 đến nay.

Người đứng đầu Đảng ta nêu rõ, chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học và công nghệ. Ở các nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế cao và do kết quả cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và Nhân dân lao động đã có những điều chỉnh, hình thành không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn. Từ giữa thập kỷ 1970 và nhất là sau khi Liên Xô và Đông Âu tan rã để thích ứng với điều kiện mới, chủ nghĩa tư bản thế giới đã điều chỉnh, thúc đẩy các chính sách tự do mới trên quy mô toàn cầu và nhờ đó hiện vẫn còn tiềm năng phát triển. Nhưng chủ nghĩa tư bản vẫn không khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Vì thế các cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính, năng lượng liên tiếp xảy ra. Bài viết đã luận chứng, cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế bắt đầu từ những năm 2008 lan đến tất cả các trung tâm tư bản chủ nghĩa khác, tác động đến hầu hết các nước. Và hôm nay, cuộc khủng hoảng y tế, xã hội lẫn kinh tế, chính trị đang diễn ra dưới tác động của đại dịch Covid-19 và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Kinh tế suy thoái đã được phơi bày sự thật về những bất công xã hội trong xã hội tư bản: thất nghiệp gia tăng, khoảng cách giàu, nghèo ngày càng lớn, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các sắc tộc.

Những tình huống “phát triển xấu”, những nghịch lý “phản phát triển” từ địa hạt kinh tế - tài chính đã tràn sang lĩnh vực xã hội và ở không ít nơi từ tình huống kinh tế đã trở thành tình huống chính trị với các làn sóng biểu tình, bãi công làm rung chuyển cả thể chế. Sự thật cho thấy bản thân thị trường tự do của chủ nghĩa tư bản không thể giúp giải quyết được những khó khăn và trong nhiều trường hợp còn gây ra những tổn hại nghiêm trọng cho các nước nghèo, làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa lao động và tư bản toàn cầu. Sự thật đó càng làm phá sản những lý thuyết kinh tế hay mô hình phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại.

Vạch trần bản chất của nền dân chủ tư sản, Tổng Bí thư phân tích, sự rêu rao, bình đẳng về quyền nhưng không kèm theo sự bình đẳng và điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất. Trong đời sống chính trị một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át. Vì vậy mà tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là “tự do” “dân chủ” dù có thể thay đổi Chính phủ, nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị, đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản.

Một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau

Sau khi vạch trần bản chất của phương thức sản xuất chủ nghĩa tư bản hiện đại và thể chế chính trị của xã hội tư bản, Tổng Bí thư đã tập trung luận giải sâu sắc: Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của Nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.

Tổng Bí thư xác định, những mong ước tốt đẹp đó chính là những giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội và cũng chính là mục tiêu, là con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và Nhân dân ta đã lựa chọn và đang kiên định, kiên trì theo đuổi. Bài viết khái quát được khát vọng của toàn dân ta trong sự nghiệp xây dựng một xã hội mới, với các giá trị đích thực đó là: một xã hội mà trong đó sự phát triển thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên nhân phẩm con người. Sự phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ công bằng xã hội chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé”, vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và phe nhóm. Sự phát triển bền vững hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ vì hủy hoại môi trường. Một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về Nhân dân, do Nhân dân và phục vụ lợi ích của Nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có.

Đảng ta nhận thức được rằng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn, phúc tạp, vì nó phải tạo sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất rất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề, các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại, cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau. Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa, bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên việc kế thừa những thành tựu này phải có chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển. 

Cho đến nay, dù còn một số vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, Đảng ta đã hình thành nhận thức tổng quát xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân ta xây dựng là: một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do Nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp. Có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển. Có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Để thực hiện thành công tác mục tiêu trên, toàn Đảng, toàn dân ta phải nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, ý chí tự lực tự cường, phát huy mọi tiềm năng và trí tuệ, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, quán triệt và thực hiện tốt các phương hướng cơ bản sau: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống Nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Trong quá trình thực hiện các phương hướng cơ bản trên, phải đặc biệt chú trọng, nắm vững và giải quyết các mối quan hệ lớn: quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển, giữa đổi mới kinh tế và chính trị, giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa, giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ, không phiến diện, cực đoan, duy ý chí.

Hoàng Ngọc ghi