Doanh nghiệp khai thác vàng mong giữ nguyên thuế suất  

Xem với cỡ chữ
Sau khi chúng tôi đăng bài “doanh nghiệp mong được sự chia sẻ từ chính sách thuế” đã nhận được nhiều ý kiến chia sẻ của các doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài. Cho rằng, nếu như phải đối mặt thêm với các khoản nộp thuế tăng cao sẽ đẩy các doanh nghiệp nhà đầu tư vào rủi ro, thậm chí phải nhường thị trường mà doanh nghiệp đã mất nhiều công gây dựng.

Là người có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực khai thác, chế biến khoáng sản nhưng Tổng giám đốc Công ty Vàng Phước Sơn và Bồng Miêu (thuộc Tập đoàn Besra) Lê Minh Kha không khỏi ngạc nhiên về chính sách thuế, đặc biệt về thuế suất vàng tăng từ 15% lên 25%. Ông Kha nhớ lại, trước khi quyết định đầu tư xây dựng hai nhà máy tại địa bàn hai huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam, Tập đoàn khai khoáng Besra đã mất hàng chục năm trời thăm dò và nghiên cứu mới đi đến quyết định xây dựng nhà máy. Khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua khi nạn khai thác vàng trái phép hoành hành trên khắp khu vực được cấp phép thăm dò. Tuy nhiên, với lòng quyết tâm cùng sự hỗ trợ của chính quyền các cấp, cuối cùng hai nhà máy khai thác và tuyển luyện vàng hiện đại nhất Việt Nam đã được đầu tư xây dựng, đẩy lùi nạn khai thác trái phép, bảo vệ nguồn tài nguyên quý hiếm của quốc gia.

Chủ tịch Tập đoàn Besra David Seton cho biết, “lần đầu tiên chúng tôi đến Việt Nam tìm kiếm cơ hội đầu tư và được Chính phủ cấp phép đầu tư vào mỏ vàng Bồng Miêu, thuế tài nguyên được xem như là cơ sở đầu tư. Bởi đây là địa bàn vùng núi khó khăn và đối mặt với nhiều rủi ro nên mức thuế được Nhà nước tính là 3% và thuế thu nhập doanh nghiệp là 18%”.

Còn tại huyện miền núi Phước Sơn mặc dù Luật Đầu tư nước ngoài quy định khuyến khích đầu tư vào các dự án công nghệ cao và ở khu vực miền núi khó khăn. Tuy nhiên, giấy phép đầu tư được cấp cho nhà máy khai thác vàng tại Phước Sơn được quy định thuế tài nguyên tăng gấp 2 lần lên 6% và thuế thu nhập doanh nghiệp ở mức cao nhất là 40%. Besra đã có nhiều kiến nghị gửi cấp có thẩm quyền nhưng đều bị từ chối. Không những vậy, sau khi nhà máy đưa vào khai thác mức thuế tài nguyên tăng tốc từ 6% lên 9%, rồi lên 15% và dự tính lên 25%. Theo ông Kha, “nếu nhìn về mặt số học từ 9% lên 15% thì người ta chỉ thấy mức này tăng lên 6%, nhưng thực chất là tăng gấp 3 lần bởi công thức tính thuế là khác nhau. Mức thuế suất 9% năm 2009 được tính dựa trên doanh thu đã trừ đi chi phí sản xuất, trong khi mức thuế 15% năm 2010 được tính dựa trên doanh thu chưa trừ chi phí sản xuất, mà thông thường chi phí sản xuất đã chiếm 50% của giá thành”.


Biểu đồ mức thuế tài nguyên vàng qua các năm

Về phía nhà đầu tư nước ngoài, Tổng Giám đốc điều hành Besra Darin Lee cho biết: việc tăng dần thuế suất của thuế tài nguyên và các loại thuế liên quan khác từ khi triển khai dự án đã gửi đến Besra (cũng như các thị trường quốc tế) một tín hiệu là Việt Nam không có một chính sách tài khóa ổn định và đã đặt Besra vào một vị trí không thuận lợi về mặt tài chính. Chúng tôi tin rằng việc giữ nguyên thuế tài nguyên và thuế suất áp dụng đối với Phước Sơn sẽ khuyến khích Besra, các cổ đông khác của Besra và các nhà cho vay ưu tiên nguồn vốn của mình cho Besra cũng là gửi thông điệp tốt đến thị trường thế giới về an ninh tài chính khi đầu tư ở Việt Nam.

Hơn nữa, nếu tăng thuế khoáng sản chỉ vì lo ngại công nghệ khai thác, chế biến vàng của các doanh nghiệp trong nước chưa cao, hiệu quả kinh tế đạt thấp, gây lãng phí tài nguyên và phát sinh tác động xấu về môi trường. Thì chúng tôi xin khẳng định rằng điều đó không đúng với hoạt động sản xuất của Phước Sơn và Bồng Miêu. Cụ thể, chúng tôi đã đầu tư hàng chục triệu USD để xây dựng các nhà máy tuyển luyện quặng với máy móc tiên tiến nhất hiện nay, đạt tiêu chuẩn công nghệ quốc tế bao gồm tự động hóa máy tính để đảm bảo hiệu quả. Thực tế đã được chứng minh thông qua đợt giám sát của ủy ban Thường vụ Quốc hội về “việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường” tại Besra năm 2012.

Còn nếu tăng thuế suất thuế tài nguyên nhằm mục đích tăng nguồn thu ngân sách. Chúng tôi e rằng việc tăng thuế suất thuế tài nguyên sẽ có tác dụng ngược lại. Ngân sách Nhà nước sẽ không thể thu được gì từ hoạt động sản xuất của Phước Sơn và Bồng Miêu khi mà cả hai công ty đều ngưng hoạt động. Hệ lụy của việc đóng cửa hoạt động sản xuất của hai công ty này sẽ không thể tiếp tục cung cấp việc làm cho khoảng 1.600 lao động. Dòng chảy lớn từ doanh thu dưới hình thức thuế tài nguyên, các loại thuế, phí môi trường và các phí khác nộp cho ngân sách Nhà nước cũng sẽ dừng lại. Đặc biệt nguy cơ về suy thoái môi trường nghiêm trọng do khai thác trái phép diễn ra.

Từ những phân tích trên, Darin Lee cho rằng việc xem xét giữ nguyên mức thuế tài nguyên sẽ gửi đi một tín hiệu mạnh mẽ để Besra tin rằng các liên doanh đang hoạt động tại Việt Nam đủ sức cạnh tranh với các nhu cầu khác về vốn. Điều này cuối cùng sẽ dẫn đến việc duy trì cũng như tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.

Từ miền núi xa xôi, Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn khoáng sản Á Cường Phạm Thị Thúy Hạnh cho biết, năm 2009 công ty quyết định khởi công xây dựng nhà máy chế biến sâu đồng trên 100 tỷ đồng. Nhưng điều không may mắn cho DN, năm 2011 khi nhà máy đi vào hoạt động thì không đủ nguyên liệu để chế biến sâu, sản xuất cầm chừng để giữ chân người lao động. Nay lại nghe điều chỉnh tăng thuế suất thì DN tính đến đường phá sản thôi...   

Cũng đang khốn khổ do phải đóng quá nhiều thuế, phí, Tổng giám đốc Công ty TNHH khoáng sản và luyện kim Việt – Trung Nguyễn Văn Toàn (Lào Cai) ngán ngẩm nói: việc tăng thuế suất sẽ gây ra hệ lụy lớn, DN nguy cơ “khai tử”, kéo theo hàng ngàn công nhân mất việc làm.

Nói về việc tăng thuế suất tài nguyên, Phó viện trưởng Viện tư vấn CODE Phạm Quang Tú cho biết: để đảm bảo quản lý và sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên khoáng sản cần có các giải pháp đồng bộ chứ không thể dùng bất kỳ một giải pháp đơn lẻ nào. Hiện Việt Nam đang có cách hiểu không đúng về bản chất thuế tài nguyên vì thế chúng ta đang có xu hướng điều chỉnh nó theo cách nghĩ của nhà quản lý hơn là theo đúng bản chất của vấn đề. Cần hiểu rằng thuế tài nguyên là khoản mà Nhà nước, với tư cách là đại diện chủ sở hữu (toàn dân) thu từ doanh nghiệp khai thác theo “giá trị nguyên khai” của tài nguyên thiên nhiên được khai thác. Chỉ có Nhà nước (với tư cách đại diện toàn dân) mới có đặc quyền hưởng dụng từ “giá trị nguyên khai” hay nói nôm na là “của trời cho” này. Việc điều chỉnh thuế tài nguyên chỉ được thực hiện khi giá trị đích thực của mỗi loại tài nguyên thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên, hiện chúng ta đang sử dụng biểu suất thuế tài nguyên dựa trên tỷ lệ phần trăm sản lượng khoáng sản được doanh nghiệp khai thác là không đúng với bản chất của vấn đề.

Tổng giám đốc Besra Lê Minh Kha khẩn thiết mong muốn những nhà làm chính sách thuế tạm dừng việc tăng thuế suất nhằm đảm bảo hài hòa các lợi ích doanh nghiệp, Nhà nước. “Nếu được Chính phủ hỗ trợ công ty vượt qua giai đoạn khó khăn này bằng việc không tăng thuế, công ty chắc chắn sẽ đóng góp được nhiều hơn vào ngân sách nhà nước cũng như thực hiện tốt hơn nữa các trách nhiệm xã hội trong tương lai bằng việc tiếp tục duy trì hoạt động”.

Để kết thúc bài viết này, chúng tôi xin trích một phần nội dung trong báo cáo Đoàn giám sát của ủy ban KHCN-MT năm 2012 khi đánh giá về hạn chế, yếu kém trong “việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường” đối với chính sách thuế, phí. Thuế, phí là một trong các công cụ kinh tế hữu hiệu để thực hiện việc điều hành và quản lý nhà nước trong khai khoáng. Việc ban hành và sử dụng công cụ này cần được điều chỉnh theo hướng khuyến khích áp dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường. Thuế tài nguyên cần tính tới các yếu tố về điều kiện khó dễ trong khai thác, tận thu và tiết kiệm khoáng sản. Khung thuế xuất khẩu khoáng sản của Quốc hội cần phải thể hiện và phân loại một số sản phẩm khoáng sản chế biến sâu...