Đẩy mạnh nâng cấp hệ thống thủy lợi 

Xem với cỡ chữ
Hệ thống thủy lợi đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Thời gian qua, mặc dù các địa phương nỗ lực đầu tư làm mới, nạo vét, nâng cấp... nhiều tuyến kênh, mương nhằm bảo đảm nguồn nước phục vụ trồng lúa, cây ăn trái và nuôi thủy sản... tuy nhiên trước những diễn biến bất thường của biến đổi khí hậu và hạn mặn, khiến thủy lợi nhiều nơi cạn kiệt, gây khó cho sản xuất.

 Theo đánh giá của Chính phủ, ĐBSCL là vùng đất có rất nhiều tiềm năng phát triển mang tầm chiến lược cả về kinh tế - xã hội. Chỉ chiếm với 12% diện tích, 19% dân số cả nước, mạng lưới sông, kênh, rạch dày đặc; có lợi thế về phát triển nông nghiệp, công nghệ thực phẩm, du lịch, năng lượng tái tạo; là trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn nhất của Việt Nam nhưng vùng ĐBSCL đóng góp 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản và 70% các loại trái cây của cả nước; 95% lượng gạo xuất khẩu và 60% sản lượng cá xuất khẩu; vị trí thuận tiện giao thương với các nước ASEAN và Tiểu vùng sông Mekong.

Đại diện Sở NN - PTNT tỉnh Trà Vinh cho biết, mặc dù ngành chức năng đã chủ động nhiều giải pháp ứng phó nhưng do hạn mặn gay gắt vừa qua, cộng với hệ thống thủy lợi một số nơi chưa khép kín… nên vụ lúa mùa năm 2019 - 2020, toàn tỉnh có hơn 381ha bị thiệt hại; lúa đông xuân 2020 có trên 21.500ha thiệt hại, cùng nhiều diện tích nuôi thủy sản ảnh hưởng; tổng thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp hơn 1.000 tỷ đồng. Ông Phạm Văn Quắn, ngụ xã Mỹ Long Nam, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, bộc bạch: “Nông dân xứ này sống dựa vào nghề nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng, thế nhưng mấy năm nay việc nuôi tôm cũng lắm rủi ro bởi thời tiết bất thường. Ngoài ra, hệ thống thủy lợi chưa hoàn chỉnh, cùng một con kênh nhưng việc lấy nước vào ao tôm nuôi và xả nước thải ra ngoài đều chung nhau, nên tôm dễ nhiễm bệnh. Mong muốn của người nuôi tôm là có được hệ thống thủy lợi lấy nước và thải nước riêng biệt. Như vậy, việc nuôi tôm sẽ an toàn hơn…”.

 Cùng ý kiến trên, ông Huỳnh Phước Hải, ngụ xã Bình Trị, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang nhìn nhận: “Ðể nuôi tôm thành công, nguồn nước đóng vai trò quan trọng, song về cơ bản do các vùng nuôi tôm phát triển nhanh, trong khi hệ thống thủy lợi đa phần là từ cây lúa chuyển sang nên chưa thể đáp ứng một cách đầy đủ được. Ðây cũng là nỗi lo của nông dân mỗi khi diễn biến thời tiết đột ngột thay đổi, nguồn nước không bảo đảm sẽ dễ gây bất lợi cho tôm nuôi”.

Việc đầu tư các công trình thủy lợi lớn giúp kiểm soát mặn, phục vụ sản xuất và dân sinh. Theo UBND tỉnh Sóc Trăng, đợt hạn mặn 2020 vừa qua, toàn tỉnh có hơn 4.000ha lúa đông xuân bị mất trắng bởi thiếu nước ngọt trầm trọng. Bên cạnh đó, có hơn 24.300 hộ thiếu nước ngọt sinh hoạt, do nguồn nước mặt từ sông, ao, hồ bị cạn kiệt hoặc nhiễm mặn; nguồn nước ngầm từ các giếng khoan giảm… Ðây là vấn đề căng thẳng cần khắc phục trong thời gian tới.

Thông tin từ Bộ NN - PTNT cho biết, việc thực hiện Đề án "Hiện đại hóa hệ thống thủy lợi phục vụ chuyển đổi, phát triển nông nghiệp bền vững ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2025 - 2030, tầm nhìn năm 2050 và năm 2100", Bộ sẽ phối hợp với các ban, ngành và địa phương, xây dựng hệ thống thủy lợi tự động hóa vận hành, bảo đảm an toàn trước thiên tai, phục vụ sản xuất nông nghiệp hàng hóa chất lượng cao tại ĐBSCL. Cụ thể, từ nay đến năm 2025, tập trung tổ chức, kiện toàn, thành lập các đơn vị quản lý, khai thác công trình thủy lợi theo đúng quy định của Luật Thủy lợi. Đầu tư xây dựng một số công trình thủy lợi lớn để kiểm soát mặn, nguồn nước, phục vụ sản xuất và dân sinh. Đến năm 2030, phát triển hệ thống thủy lợi đồng bộ, từng bước hiện đại, thông minh, đáp ứng yêu cầu sản xuất nông nghiệp đa dạng, bền vững tại các tiểu vùng sinh thái.

Quan điểm chung là hiện đại hóa hệ thống thủy lợi làm cơ sở để cơ cấu lại nông nghiệp nhằm phát triển bền vững ÐBSCL theo Nghị quyết số 120 của Chính phủ. Chuyển đổi sản xuất nông nghiệp đa dạng theo hướng thủy sản, cây ăn trái, lúa gạo, ứng dụng công nghệ cao, phát triển nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp sạch đáp ứng nhu cầu thị trường. Việc hiện đại hóa hệ thống thủy lợi phải dựa trên cơ sở tôn trọng quy luật tự nhiên, lựa chọn mô hình thích ứng theo tự nhiên, thuận thiên với môi trường, chủ động sống chung với lũ, nước lợ, mặn và lấy tài nguyên nước là yếu tố cốt lõi, phù hợp với điều kiện thực tế. Ngoài ra, hiện đại hóa thủy lợi cũng gắn với quy hoạch vùng ÐBSCL, quy hoạch thủy lợi và phòng chống thiên tai, cùng các quy hoạch khác có liên quan.

 Giai đoạn thực hiện, từ nay đến năm 2025, khảo sát hiện trạng hạ tầng các hệ thống thủy lợi để phục vụ cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Xây dựng hệ thống giám sát tự động về độ mặn, nguồn nước, chất lượng nước; cải tạo và sửa chữa, nâng cấp hệ thống cống, nâng cấp đê, bờ bao cho vùng cây ăn trái; nâng cấp công trình cấp nước cho vùng nuôi thủy sản… Từ năm 2026 - 2030, hoàn thiện thủy lợi cho vùng nuôi thủy sản và vùng ngọt hóa; khép kín, hoàn thiện hệ thống đê bao, bờ bao và công trình nội đồng, công trình kiểm soát, chuyển nước liên vùng. Giai đoạn 2031 - 2050, phát huy hiệu quả các dự án được thực hiện trước đó; đồng thời điều chỉnh phù hợp yêu cầu phát triển nội vùng, tác động của biến đổi khí hậu; đầu tư tự động hóa vận hành các công trình thủy lợi khép kín, công trình kiểm soát lũ, kiểm soát mặn… Sau năm 2050, kế thừa và phát huy kết quả từ các giai đoạn trước; tiếp tục hiện đại hóa thủy lợi theo chiều sâu, bảo đảm phục vụ và phát triển hàng hóa chất lượng cao… Nguồn vốn thực hiện là từ ngân sách trung ương, ngân sách địa phương và vốn xã hội hóa.

Anh Hiến