Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên và sự ra đời của Hiến pháp 1946

GS.TS. Trần Ngọc Đường 01/01/2017 10:12

Cách đây 71 năm (ngày 6.1.1946), cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu lần đầu tiên được tổ chức ở nước ta. Vượt lên muôn vàn khó khăn, thù trong, giặc ngoài, chính quyền còn non trẻ như ngàn cân treo sợi tóc, cuộc tổng tuyển cử đã thành công tốt đẹp.

QH Khóa I ra đời với 333 đại biểu trúng cử, đại diện cho cử tri khắp các vùng, miền trong cả nước. Đó là QH được bầu ra với chế độ dân chủ, phổ thông đầu phiếu đầu tiên ở Đông Nam Á và cũng là QH đầu tiên của các nước thuộc địa kiểu cũ giành được độc lập, tự do. Lần đầu tiên những công dân Việt Nam như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “Hễ là những người muốn lo việc nước đều có quyền ứng cử, hễ là công dân đều có quyền đi bầu cử. Không chia gái, trai, giàu, nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam đều có hai quyền đó. Vì lẽ đó cho nên tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng, tức là dân chủ đoàn kết”.

Tại Kỳ họp thứ 2, QH Khóa I đã thông qua Hiến pháp năm 1946 - Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Tại Kỳ họp thứ 2, QH Khóa I đã thông qua Hiến pháp năm 1946 - Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Một trong những nhiệm vụ quan trọng đầu tiên của QH Khóa I là để “quy định Hiến pháp, bầu Chính phủ chính thức”. Chính vì thế, ngày 3.9.1945 tức là chỉ một ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị, một trong sáu nhiệm vụ cấp bách cần phải thực hiện ngay là “… tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu” để bầu ra QH - cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân - sẽ cử ra một Chính phủ thật sự của toàn dân và ấn định cho nước Việt Nam một bản Hiến pháp dân chủ. Người nói “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ. Chúng ta phải có một bản Hiến pháp dân chủ”.

Và ngày 9.11.1946, tại Kỳ họp thứ 2, QH Khóa I đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của một nước độc lập, có chủ quyền, Hiến pháp năm 1946 đã mở ra một trang sử mới của dân tộc ta, với một hệ thống chính quyền thống nhất, hoàn toàn đủ danh nghĩa về mặt pháp lý để đại diện cho nhân dân Việt Nam về đối nội và đối ngoại, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “Bên trong thì nhân dân tin tưởng vào chế độ mình. Trước thế giới QH do dân bầu ra sẽ có một giá trị pháp lý không ai có thể phủ nhận được”. Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh giữa độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và Hiến pháp của Nhà nước có mối quan hệ không tách rời. Nước không độc lập, quốc gia chưa có chủ quyền và chưa bầu ra được QH một cách dân chủ thì chưa có điều kiện để xây dựng và ban hành Hiến pháp. Ngược lại, Hiến pháp năm 1946 ra đời là để tuyên bố về mặt pháp lý với nhân dân trong nước và thế giới một nhà nước độc lập, có chủ quyền và là phương tiện để bảo vệ độc lập và chủ quyền quốc gia.

Hiến pháp năm 1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban soạn thảo và được QH Khóa I thông qua với đa số tuyệt đối, là một cống hiến vô cùng quan trọng và tiêu biểu trong lịch sử lập hiến của nước ta. Nhiều nội dung, tinh thần và kỹ thuật lập hiến của Hiến pháp năm 1946 được kế thừa và phát triển trong các bản Hiến pháp sau này của nước ta.

Kỷ niệm 71 năm ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu QH Khóa I, nhớ về một QH đã ban hành ra bản Hiến pháp tuyệt vời đầu tiên ở nước ta mà Hiến pháp năm 2013 hiện hành đã có sự kế thừa và phát triển rất mạnh mẽ, phù hợp với điều kiện mới; tôi mong muốn, QH Khóa XIV tiếp tục thể chế hóa trong các đạo luật để sớm đưa Hiến pháp năm 2013 đi vào cuộc sống và trở thành hiện thực. Trong số đó, đề nghị QH quan tâm, tiếp tục thể chế hóa nguyên tắc “tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân” của Hiến pháp năm 1946 đã được Hiến pháp năm 2013 kế thừa và phát triển khá đầy đủ, nhất quán và hoàn chỉnh trong việc tạo lập cơ sở hiến định cho sự ra đời một cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Cơ sở hiến định đó bao gồm:

Một là, bảo vệ Hiến pháp là bảo vệ chủ quyền của nhân dân, bảo vệ toàn vẹn quyền lực của Nhà nước thuộc về nhân dân. Hiến pháp năm 2013 kế thừa sâu sắc điều đó của Hiến pháp năm 1946 tại Khoản 2, Điều 119 đã quy định: “QH, các cơ quan của QH, Chủ tịch Nước, Chính phủ, Tòa án Nhân dân, Viện Kiểm sát Nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp. Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định”. Theo tôi hiểu, Khoản 2, Điều 119 của Hiến pháp năm 2013 nói trên đòi hỏi: Một mặt, phải thể chế hóa trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp của các thiết chế cấu thành bộ máy nhà nước bằng các quy định trong luật tổ chức của các cơ quan này. Và mặt khác, phải tiến hành xây dựng một đạo luật để có thể hình thành một thiết chế kiểm soát quyền lực nhà nước chuyên trách, độc lập.

Hai là, Hiến pháp năm 2013 đã tạo ra cơ sở hiến định để hình thành hai cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước. Cơ chế kiểm soát thứ nhất bao gồm các chủ thể không phải là cơ quan nhà nước tiến hành kiểm soát quyền lực nhà nước. Đó là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên của Mặt trận (Điều 9, Điều 10), nhân dân với các hình thức thực hiện quyền lực Nhà nước một cách trực tiếp (Điều 6) bằng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền bầu cử, ứng cử, quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân. Đây là cơ chế nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước. Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước này cũng cần phải được thể chế hóa đầy đủ, cụ thể trong các Luật Mặt trận, Luật Công đoàn, Luật Thanh niên, Luật Báo chí… Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước thứ hai là cơ chế do các cơ quan nhà nước, những người có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước tiến hành. Đây là cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước bên trong, bao gồm kiểm soát quyền lực nhà nước lẫn nhau giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp và trong nội bộ của mỗi quyền.

Có thể nói, cho đến nay, việc kiểm soát quyền lực nhà nước để bảo đảm cho quyền lực nhà nước ngày càng thực sự là quyền của nhân dân được Hiến pháp quy định như viết ở trên chưa hoàn chỉnh ở nước ta về phương diện lập pháp. Do đó, tình trạng quyền lực nhà nước bị lạm dụng vẫn còn là những nhức nhối làm cho lòng dân chưa yên. Nhớ về QH Khóa I với việc ra đời Hiến pháp năm 1946, tôi tin tưởng sâu sắc QH Khóa XIV sẽ tăng cường hoạt động lập pháp về kiểm soát quyền lực nhà nước trong thời gian tới.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên và sự ra đời của Hiến pháp 1946
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO