Chuẩn hóa theo thông lệ quốc tế 

Xem với cỡ chữ

Mới đây, Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành thông báo danh sách 16 trường đại học được cấp chứng chỉ ngoại ngữ (tiếng Anh) theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam. Đây là những đơn vị đủ điều kiện đào tạo và cấp các chứng chỉ thực hiện theo Thông tư số 23/2017/TT-BGDĐT và nộp hồ sơ về Bộ Giáo dục và Đào tạo, được Bộ cấp phép.

Việc thi, cấp chứng chỉ theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam được thực hiện sau khi Bộ Giáo dục và Đào tạo "khai tử" chứng chỉ ngoại ngữ hệ A-B-C. Khung này được phát triển trên cơ sở tham chiếu, ứng dụng Khung tham chiếu châu Âu (CEFR) và một số khung trình độ tiếng Anh của các nước, kết hợp với tình hình và điều kiện thực tế dạy, học và sử dụng ngoại ngữ ở Việt Nam. Tuy nhiên, do Bộ chưa có những quy định cụ thể về quy đổi hay tính tương đương giữa các chứng chỉ tiếng Anh quốc tế và trong nước nên đã gây ra những bất cập trong sử dụng.

Thực tế hiện nay, nhiều trường đại học yêu cầu chuẩn đầu ra đối với tiếng Anh là tính theo điểm TOEIC, nhưng cách dạy và luyện thi chứng chỉ này được thực hiện khác nhau. Nên sau khi đáp ứng chuẩn đầu ra của từng trường, đến khi nộp hồ sơ đi xin việc, mỗi đơn vị lại đòi hỏi các chứng chỉ ngoại ngữ khác nhau khiến cho người lao động có thể phải một lần nữa đầu tư thời gian, công sức, tiền bạc để bổ sung một chứng chỉ khác nếu muốn được tuyển dụng. Không ít doanh nghiệp thậm chí không biết đến chứng chỉ ngoại ngữ mà các trường đại học cấp, không sử dụng khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam mà chỉ yêu cầu các chứng chỉ quốc tế phổ biến như IELTS, TOEIC, TOEFL và các chứng chỉ của Cambridge (FCE, CAE, CPE).

Sự khác nhau và vênh nhau về yêu cầu tiếng Anh giữa chuẩn đầu ra của trường đại học với đầu vào của đơn vị, doanh nghiệp đòi hỏi Bộ Giáo dục và Đào tạo cần sớm có quy định về việc quy đổi giữa các chứng chỉ ngoại ngữ trong nước và quốc tế để tạo thuận lợi cho người sử dụng. Nếu đã đặt ra khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc của Việt Nam thì nên có quy định cụ thể rõ ràng mỗi loại chứng chỉ quốc tế tương ứng mức điểm số bao nhiêu thì rơi vào bậc nào của khung năng lực 6 bậc. Khi đã có quy định cụ thể như vậy, các doanh nghiệp dù yêu cầu chứng chỉ quốc tế như thế nào cũng phải căn cứ vào khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc của Việt Nam để tham chiếu, tạo ra sự thống nhất chung.

Bên cạnh đó, việc đào tạo, cấp chứng chỉ ngoại ngữ ở các trường đại học cần được chuẩn hóa theo thông lệ quốc tế, được công nhận phù hợp với chuẩn tương đương các nước trong khu vực và trên thế giới. Làm thế nào để chứng chỉ do chúng ta cấp cho người học cũng được thế giới công nhận. Khi năng lực ngoại ngữ được đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế, lao động Việt Nam mới có cơ hội cạnh tranh hơn trên thị trường lao động, có nhiều cơ hội việc làm hơn trong bối cảnh dịch chuyển lao động tự do giữa các nước.

Duy Anh