Chống chuyển giá có gì mới? 

Xem với cỡ chữ

TS. Phạm Thế Anh

Với những cam kết khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và các hiệp định thương mại tự do khác, nhìn chung Việt Nam không nên phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài (FDI). Việc quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có giao dịch liên kết nhằm chống tránh thuế, trốn thuế cũng vậy.

Không chỉ là vấn đề quản lý thuế với các doanh nghiệp có giao dịch liên kết, Việt Nam cũng nên dần xóa bỏ tất cả ưu đãi thuế mang tính phân biệt đối xử mà các doanh nghiệp FDI đang thụ hưởng so với khu vực doanh nghiệp trong nước. Ưu đãi thuế với các "đại bàng" FDI chỉ nên dùng như một phương sách cuối cùng và phải có những ràng buộc cụ thể như chuyển giao công nghệ và chuỗi cung ứng chẳng hạn.

Hơn nữa, do Việt Nam đang áp dụng nhiều mức thuế ưu đãi khác nhau, tùy thuộc vào quy mô, tuổi đời và địa bàn hoạt động, nên giữa các doanh nghiệp trong nước cũng có thể có sự khác biệt về thuế suất thu nhập doanh nghiệp. Do vậy, việc chống chuyển lợi nhuận không chỉ là câu chuyện của riêng doanh nghiệp nước ngoài.

Nghị định 132/2020 quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết được ban hành ngày 5.11 vừa qua hay Nghị định 20/2017 cũng về nội dung này trước đây là một bước tiến lớn của Bộ Tài chính trong công tác quản lý thuế, cũng như nỗ lực phòng chống chuyển giá, chuyển lợi nhuận theo tinh thần của chương trình hành động chống “xói mòn cơ sở thu thuế và chuyển lợi nhuận” (BEPS) mà nhiều nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đang thực hiện. Khi triển khai ở Việt Nam, nội dung gây nhiều tranh cãi nhất là liên quan đến trần tổng chi phí lãi vay/thu nhập trước lãi vay, thuế và khấu hao (EBITDA) được khấu trừ thuế.

Cần phải khẳng định rằng, mục đích của Nghị định 132 hay Nghị định 20 không hạn chế doanh nghiệp vay nợ mà chỉ hạn chế doanh nghiệp vay nợ từ các công ty liên kết (công ty bố mẹ, anh em, họ hàng…). Liên quan tới nội dung này, so với Nghị định 20, Nghị định 132 có một số sửa đổi quan trọng.

Một là, khi tính tỷ lệ tổng chi phí lãi vay/EBITDA để áp dụng mức trần, Nghị định 132 sử dụng tổng chi phí lãi vay ròng, tức là chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay.

Hai là, nếu tổng chi phí lãi vay/EBITDA vượt quá mức trần quy định thì doanh nghiệp không được khấu trừ thuế. Tuy nhiên, Nghị định 132 cho phép các doanh nghiệp có phần chi phí lãi vay vượt trần này được chuyển sang kỳ tính thuế tiếp theo, nhưng không quá 5 năm. Điều này giúp cho các doanh nghiệp có đầu tư lớn (tài trợ bằng vay nợ) vào một năm nào đó có thể “phân bổ” chi phí lãi vay cho những năm kế tiếp.

Thứ ba, mức trần tổng chi phí lãi vay/EBITDA được nâng từ 20% lên 30%. Về điểm này, Bộ Tài chính dường như không đủ bản lĩnh để bảo vệ quan điểm của mình. Qua sử dụng dữ liệu điều tra doanh nghiệp hàng năm để tính toán thấy rằng, số lượng doanh nghiệp có tỷ lệ tổng chi phí lãi vay (không phải tổng chi phí lãi vay ròng)/EBITDA là rất nhỏ, chỉ vài trăm doanh nghiệp FDI. Nếu loại bỏ những doanh nghiệp không có giao dịch liên kết đi nữa thì con số còn lại chẳng còn là bao. Lợi ích của việc áp trần tổng chi phí lãi vay/EBITDA không chỉ dừng ở việc chống chuyển lợi nhuận, mà còn ở việc chống vốn mỏng, làm lành mạnh thị trường vốn, thị trường tín dụng, hạn chế những đặc quyền đặc lợi từ doanh nghiệp nhà nước so với doanh nghiệp tư nhân.

Ngoài ra, trước đây, theo giải thích của Bộ Tài chính, chi phí lãi vay dùng để tính trần tổng chi phí lãi vay/EBITDA là chi phí lãi vay phát sinh giữa doanh nghiệp (có giao dịch liên kết) với bất kỳ bên nào (bất kể có giao dịch liên kết hay không). Tuy nhiên, chi phí lãi vay này chỉ nên là chi phí lãi vay từ bên cho vay mà doanh nghiệp có quan hệ liên kết. Rất tiếc, điểm này chưa được Nghị định 132 làm sáng tỏ hơn so với Nghị định 20. Có lẽ đây sẽ là điểm mà doanh nghiệp cần có sự giải thích, hướng dẫn trong thời gian tới. Nếu điểm này được áp dụng như đề xuất nêu trên thì có lẽ sẽ không cần phải nâng trần tổng chi phí lãi vay/EBITDA lên 30%.