Cần đánh giá tác động thấu đáo 

Xem với cỡ chữ

Là thành viên Ủy ban được Quốc hội giao chủ trì thẩm tra, giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sửa đổi), tôi đã nhiều lần tham gia đóng góp ý kiến. Tuy vậy, tôi vẫn rất băn khoăn đối với quy định tại Điều 2 và Điều 5 của dự thảo Luật về việc bổ sung Trung tâm dịch vụ việc làm là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và thực hiện thỏa thuận quốc tế.

Đây là vấn đề mới. Dự thảo Luật trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ Chín chưa đặt vấn đề này mà sau đó, trong quá trình tiếp thu chỉnh lý thì Chính phủ mới đề xuất bổ sung. Tuy nhiên, cơ quan trình lại chưa đánh giá được tác động một cách thấu đáo mà chỉ có Công văn bổ sung số 2455 ngày 3.7. Có rất nhiều câu hỏi đặt ra đối với đề xuất này.

Theo dự thảo Luật hiện nay thì doanh nghiệp dịch vụ phải ký quỹ, vậy đơn vị sự nghiệp công lập có ký quỹ không? Nếu ký quỹ thì từ nguồn nào, có phải từ ngân sách nhà nước không? Cơ quan đề xuất khẳng định quy định này không làm tăng bộ máy, biên chế. Hiện nay, Trung tâm dịch vụ việc làm đang thực hiện 7 nhiệm vụ theo quy định của Luật Việc làm. Nếu thực hiện thêm nhiệm vụ như đề xuất thì có đảm đương được không? Vì đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải thực hiện rất nhiều việc, từ chuẩn bị nguồn, tiếp cận khách hàng, đào tạo, lập hồ sơ, quản lý con người từ khi đi trong suốt thời gian lao động và hết hợp đồng về nước và tiếp tục lao động. Khi Ủy ban về các vấn đề Xã hội đi giám sát thì doanh nghiệp cho biết, để giải quyết được 500 lao động phải có bộ máy hàng trăm người. Vậy lấy biên chế ở đâu? Nhân lực ở đâu? Chưa nói là phải qua đào tạo đội ngũ để đạt được các tiêu chuẩn như doanh nghiệp dịch vụ đang được quy định tại dự thảo Luật.

Bên cạnh đó, người lao động nếu đi làm việc theo hợp đồng của Trung tâm dịch vụ việc làm thì không phải thu phí còn đi theo hợp đồng của doanh nghiệp dịch vụ thì phải thu phí. Vậy nguồn lực này có phải từ ngân sách nhà nước không? Do Trung ương hay địa phương đảm nhận? Quy định như vậy có tạo nên sự bất bình đẳng giữa doanh nghiệp và đơn vị sự nghiệp công lập không? Có tạo cơ chế xin cho không? Đối tượng nào sẽ được đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng miễn phí? Khi người lao động ở nước ngoài nếu xảy ra rủi ro, vi phạm thì nhà nước, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, Giám đốc Trung tâm dịch vụ việc làm chịu trách nhiệm xử lý như thế nào là rất khó.

Theo Nghị quyết số 17 của Trung ương về chủ trương xã hội hóa dịch vụ công, việc gì doanh nghiệp làm được thì doanh nghiệp làm, đơn vị sự nghiệp công không làm. Hiện nay có 495 doanh nghiệp đang thực hiện dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và có đến 90% người lao động làm việc ở nước ngoài là do các doanh nghiệp thực hiện. Nếu bổ sung Trung tâm dịch vụ việc làm tham gia đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài thì có làm ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của doanh nghiệp không? Và có đi theo hướng cơ chế thị trường điều tiết không? Nếu đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo điều ước và thỏa ước quốc tế thì có giao cho doanh nghiệp thực hiện được không? Nếu không giao được thì vì sao?

Tất cả những vấn đề trên đây, tôi đề nghị phải đánh giá tác động. Mặt khác, với các Trung tâm dịch vụ việc làm, theo giám sát của Ủy ban về các vấn đề Xã hội hàng năm và đánh giá mới nhất của World Bank thì phần lớn các Trung tâm chưa thực hiện đầy đủ chức năng chính là dịch vụ việc làm; cán bộ tư vấn của các Trung tâm chưa được đào tạo đầy đủ và bài bản, chưa hình thành được mạng lưới gắn kết giữa trung tâm và doanh nghiệp và có cơ sở sản xuất kinh doanh không được cung cấp đầy đủ nguồn lực và có mối liên hệ rất hạn chế với các doanh nghiệp.

Việc làm chính của Trung tâm dịch vụ việc làm hiện nay là thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp. Nhiệm vụ này chỉ phục vụ một phần nhỏ lực lượng lao động Việt Nam, trong khi nhiệm vụ chính là thực hiện công tác giới thiệu việc làm cho toàn bộ lực lượng lao động thì chưa được quan tâm một cách đúng mức. Đây là hạn chế lớn nhất của loại hình Trung tâm dịch vụ việc làm và đối tượng phục vụ của Trung tâm dịch vụ việc làm. Hiện nay trung tâm đang phải đối mặt với 3 thách thức cơ bản, thách thức về hệ thống gây ra bởi hệ thống dịch vụ việc làm quốc gia bị hạn chế nguồn lực do chủ yếu dựa vào các nguồn chi trả từ bảo hiểm thất nghiệp và từ hệ thống phân cấp. Danh mục dịch vụ việc làm hạn chế chưa đáp ứng được với đòi hỏi kết nối việc làm.

Với những lý do như vậy, tôi đề nghị không giao cho Trung tâm dịch vụ việc làm đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và như vậy, chúng ta cũng sẽ không phải sửa Điều 38 Luật Việc làm.

ĐBQH Lê Thị Nguyệt (Vĩnh Phúc)