Đó là nhận định của các chuyên gia tại Hội thảo "Triển vọng phát triển du lịch gắn với Halal trên địa bàn TP. Hà Nội", do Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội phối hợp với Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), Đại học RMIT và Đại sứ quán một số quốc gia tổ chức ngày 15.4. Hội thảo nhằm góp phần triển khai Đề án “Tăng cường hợp tác quốc tế để xây dựng và phát triển ngành Halal Việt Nam đến năm 2030” được Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phê duyệt ngày 14.2.2023.
Thị trường nhiều tiềm năng

Theo Báo cáo chỉ số du lịch Hồi giáo toàn cầu, lượng khách du lịch Hồi giáo năm 2023 đạt 140 triệu lượt, năm 2024 ước đạt 160 triệu lượt. Khả năng chi trả của khách du lịch Hồi giáo ở mức cao và đang ngày càng tăng, đặc biệt là thị trường khách đến từ các quốc gia thuộc Hội đồng hợp tác vùng Vịnh (GCC). Singapore, Thái Lan đã vươn lên trở thành những nước đón lượng khách du lịch Hồi giáo nhiều nhất thế giới, lần lượt là thứ nhất và thứ 5.
Nhận thấy tiềm năng lớn từ dòng khách này, gần đây, ngành du lịch Việt Nam đã tổ chức nhiều đợt xúc tiến, quảng bá để thúc đẩy phát triển thị trường khách Hồi giáo đến Việt Nam. Tháng 10.2024, Bộ Khoa học và Công nghệ đã công bố tiêu chuẩn quốc gia TCVN 14230:2024 “Dịch vụ du lịch thân thiện với người Hồi giáo - Các yêu cầu” nhằm tạo thuận lợi cho việc thu hút khách du lịch Hồi giáo tham quan, nghỉ dưỡng, du lịch kết hợp hội nghị... tại Việt Nam.

Các chuyên gia nhận định, du lịch Halal sẽ là một cú hích cho các doanh nghiệp du lịch, lữ hành Việt Nam tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm của mình thông qua việc phục vụ dòng khách từ Trung Đông và các quốc gia Hồi giáo, đóng góp vào chương trình phát triển ngành Halal của Việt Nam.
Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội, TS. Trịnh Thu Hà cho biết, du lịch Halal đang nổi lên như một xu hướng toàn cầu, đóng góp quan trọng vào sự phát triển của ngành du lịch tại nhiều quốc gia. Với hơn 1,9 tỷ người, khoảng 30% dân số toàn cầu, dự báo đến năm 2030, du lịch Halal sẽ đóng góp gần 350 tỷ USD vào ngành du lịch thế giới. Nhiều quốc gia đã và đang hoạch định chính sách, xây dựng các chương trình hành động, đầu tư phát triển du lịch Halal để thu hút nguồn khách hàng tiềm năng này.
Cũng theo TS. Trịnh Thu Hà, những năm qua, Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát triển du lịch và phát triển Halal tại Việt Nam, trong đó có Quyết định số 10/QĐ-TTg ngày 14.2.2023 của Thủ tướng Chính phủ về đề án “Tăng cường hợp tác quốc tế để xây dựng và phát triển ngành Halal Việt Nam đến năm 2030”. Qua đó, đã tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của ngành Halal, trong đó có du lịch Halal.

Phát biểu tại Hội thảo, Đại sứ Azerbaijan tại Việt Nam Shovgi Mehdizade tin tưởng, với tiềm năng du lịch lớn, Việt Nam sẽ có bước tiến mới trong lĩnh vực du lịch Halal. "Chúng tôi sẽ tiếp tục hợp tác, hỗ trợ đưa các tổ chức du lịch Hồi giáo, giới thiệu các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch Halal quốc tế tới Việt Nam; giúp các doanh nghiệp Việt Nam đạt chứng nhận, tiêu chuẩn Halal…"
Cần nắm rõ những đặc điểm du lịch gắn với Halal
Trong tham luận gửi hội thảo, ThS. Nguyễn Thùy Ngân, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn nhận định, với nguồn tài nguyên du lịch phong phú, vị trí địa lý thuận lợi, môi trường chính trị ổn định và văn hóa hiếu khách, Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển loại hình du lịch này. Việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng dịch vụ, ẩm thực, lưu trú thân thiện với người Hồi giáo là một yêu cầu cần thiết để thúc đẩy sự phát triển bền vững du lịch Halal tại Việt Nam, đồng thời mở ra một phân khúc thị trường tiềm năng này cho các doanh nghiệp du lịch.
Bên cạnh đó, việc triển khai rộng rãi tiêu chuẩn quốc gia TCVN 14230:2024 về “Dịch vụ du lịch thân thiện với người Hồi giáo” sẽ góp phần hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh lưu trú và nâng cao khả năng cạnh tranh của du lịch Việt Nam trên thị trường quốc tế”.

Theo nghiên cứu của Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, dòng khách Halal có xu hướng du lịch theo đoàn lớn hoặc gia đình, lưu trú dài ngày (từ 1 - 2 tuần) tại những điểm đến được lựa chọn. Khách Halal thường thích tham quan nơi có cảnh quan thiên nhiên đẹp hoặc công viên giải trí…
Giám đốc Trung tâm Chứng nhận Halal quốc gia RamLan Osman cho rằng, xây dựng, phát triển hệ sinh thái Halal bền vững tại Việt Nam sẽ góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, để có thể phát triển ngành du lịch này đòi hỏi có sự cung ứng đa dạng các sản phẩm Halal từ thực phẩm, đồ uống cho đến dược phẩm, mỹ phẩm, thời trang…

Trong khi đó, các cơ sở ẩm thực Halal, vốn là yếu tố quyết định trong du lịch Halal, tại Việt Nam vẫn còn rất ít và chưa đủ mức độ tin cậy cần thiết do thiếu chứng chỉ Halal quốc tế, kể cả tại các trung tâm du lịch lớn.
Theo ông RamLan Osman, “khách sạn cần có ít nhất một nhà hàng đạt chuẩn Halal; có biển chỉ hướng lễ nguyện cho người Hồi giáo trên trần nhà; có thảm lễ nguyện và kinh Qu’ran; có thông tin cập nhật về thời gian cầu nguyện; có khu bể bơi/gym tách biệt; có buffet cho bữa ăn xả chay trong tháng Ramadan; có phòng cầu nguyện riêng, đặc biệt là với các khách sạn MICE; có người phụ trách kiểm tra về Halal… Đặc biệt, cần có đội ngũ hướng dẫn viên du lịch người Việt Nam có năng lực, hiểu biết về yêu cầu về du lịch của người Hồi giáo”.

Đại sứ Pakistan tại Việt Nam Kohdayar Marri lưu ý: Halal là cốt lõi của các hoạt động Hồi giáo và được bắt nguồn từ kinh Qur’an. Halal thường gắn liền với các luật về ăn kiêng và thịt động vật được giết mổ theo hướng dẫn của Đạo hồi và nó cũng chi phối các hoạt động đạo đức trong kinh doanh, tài chính... Để thu hút nhiều du khách Hồi giáo, các hoạt động Halal cũng nên được tuân thủ; đồng thời phải có đủ không gian cho người Hồi giáo cầu nguyện, thực hiện các nghi thức tôn giáo theo cộng đồng...

Theo TS. Trịnh Thu Hà, để phát huy vai trò của Hà Nội như một điểm đến thân thiện và hấp dẫn du khách Hồi giáo, góp phần phát triển du lịch toàn diện và bền vững của Thủ đô và cả nước, góp phần triển khai tốt Đề án của Chính phủ, cần nắm rõ những đặc điểm du lịch gắn với Halal; cập nhật xu hướng phát triển du lịch Halal toàn cầu và kinh nghiệm quốc tế… Đồng thời, thúc đẩy kết nối, hợp tác giữa các bên liên quan, bao gồm cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và tổ chức quốc tế.