Giá trị tư tưởng lý luận về chủ nghĩa xã hội từ các tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng:

Bài 4: Đổi mới và phát triển nội hàm về chủ nghĩa xã hội Việt Nam

TS. NHỊ LÊ - Nguyên Phó Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản

Từ đổi mới, thực tiễn đang mở ra chân trời cho sự khám khá một cách độc lập và sáng tạo về chủ nghĩa xã hội (CNXH) Việt Nam, với nội hàm phát triển phong phú, sinh động và cụ thể. Có thể hình dung:

Chủ nghĩa xã hội là văn hóa, là đạo đức, văn minh được kết tinh và thể hiện tập trung ở Đảng

Thứ nhất, CNXH là Đất nước độc lập, Tổ quốc phồn vinh, Nhân dân hạnh phúc. Không thể có một nền độc lập chân chính nếu quốc gia dân tộc không có quyền tự quyết, dân tộc không thể có chủ quyền thực sự nếu không thống nhất toàn vẹn, nhân dân không thể có tự do nếu dân tộc bị lệ thuộc vào dân tộc khác hoặc đất nước bị hay tự cùm trói mình bởi quốc gia khác, dù dưới hình thức này hay mức độ kia. Đó là khát vọng cháy bỏng và tiếng gọi thiêng liêng của thời đại đối với tất cả các quốc gia dân tộc trên thế giới hiện nay. Nền độc lập hoàn toàn, thật sự ấy, phải là quyền tự nhiên, thiêng liêng, vô cùng quý giá và bất khả xâm phạm của các quốc gia dân tộc.   

Để xây dựng, phát triển và bảo vệ nền độc lập dân tộc ấy, Dân tộc độc lập trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao. Đó chính là chủ quyền quốc gia tự quyết. Nước Việt Nam là của người Việt Nam, do Dân tộc Việt Nam quyết định, Nhân dân Việt Nam không chấp nhận bất cứ sự can thiệp nào từ bên ngoài. Đó là hiện thân và sự phát triển của tinh thần độc lập tự do, thống nhất quốc gia, danh dự của dân tộc trải mấy nghìn năm, không gì và không lực lượng nào có thể làm vấy bẩn, đe dọa và khuất phục nổi!

Đó không chỉ là nhu cầu của sự tồn tại dân tộc, nhu cầu tình cảm dân tộc mà còn trở thành động lực cách mạng, nên sức mạnh tổng hợp bảo đảm cho công cuộc bảo vệ nền độc lập, chủ quyền đất nước và sự thống nhất toàn vẹn của Tổ quốc và “đó là con đường sống của Nhân dân Việt Nam”, với chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đó là thước đo sự trưởng thành của nền độc lập dân tộc thấm đẫm tinh thần phát triển, tiến bộ và tính nhân văn cao cả, tính triệt để cách mạng. Đó không chỉ là lý tưởng mà còn là lẽ sống của Dân tộc ta, đồng thời, còn là mục tiêu và nguồn cổ vũ chung đối với các dân tộc bị áp bức và nô dịch trên toàn thế giới. Đó chính là sự phát triển tới đỉnh cao sự thống nhất sức mạnh dân tộc Việt Nam hòa trong dòng chảy sức mạnh và sự phát triển của thời đại. 

Lịch sử Dân tộc gần 100 năm nay, càng sáng tỏ một bài học lớn về giá trị của độc lập không có nghĩa là tự cô lập mình, tự mình khép kín và sự kiên quyết bảo vệ nền độc lập đó, quyết không bị chi phối hay bị lệ thuộc từ bất cứ phía nào trên con đường phát triển đất nước nhân văn và thịnh vượng… Đó là nghệ thuật phát triển sự độc lập sáng tạo, thống nhất trong đa dạng, tự chủ và tự quyết của chúng ta trên con đường vươn tới hùng cường, trong dòng chảy của thời đại ngày nay. 

Độc lập dân tộc là điều kiện nền tảng để thực hiện mục tiêu để mỗi một người Dân đạt tới hạnh phúc, tự do. Việc giành lại nền độc lập của dân tộc không phải là mục đích cuối cùng mà là điều kiện để lại tự do, hạnh phúc cho Nhân dân. Độc lập dân tộc vì và cho Nhân dân ta được hoàn toàn tự do, được hưởng hạnh phúc - một phẩm giá Dân tộc cao cả và thiêng liêng nhất -  một tuyên ngôn chính trị hàm súc và nhân văn vô song của Đảng. Nếu không như thế, không thể nói và hành động gắn bó mật thiết với Nhân dân, sống giữa lòng Dân, phải luôn thấu hiểu đời sống, tình hình, tâm lý, tâm tư, nguyện vọng Nhân dân; càng không thể xây dựng nước ta thật sự là một nước dân chủ, tự cường, xứng đáng với Nhân dân; và càng không thể gìn giữ sự thống nhất của Tổ quốc, vì sự trường tồn của Dân tộc và vì nền độc lập của đất nước. Do đó, việc mang tầm chiến lược nhưng cấp bách nóng bỏng hiện nay, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về Nhân dân, do Nhân dân và phục vụ lợi ích của Nhân dân”(29).

Theo đó, Đảng kiên quyết trừng phạt bất kỳ ai với tinh thần Đảng cương bất vị nể, không vùng cấm, không ngoại lệ khi bất cứ ai cam tâm chà đạp và đục khoét Nhân dân, ăn trộm quốc khố, ăn cắp chức vụ, sống phù hoa xa xỉ…; Nhà nước không dung thứ bất cứ những thế lực nào nhân danh đổi mới, mở cửa âm mưu và làm hại Nhân dân và chống phá đất nước dưới mọi hình thức và mức độ một cách dân chủ và kỷ cương với tinh thần Quốc pháp tối thượng. Không vun đắp và Hiến định từ Gốc một cách dân chủ mọi quyền hành và trách nhiệm của Nhân dân, quốc gia tất bại vong! Nhìn xa hơn, đó chính là mệnh lệnh của công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ trong tầm nhìn tới năm 2030, 2045.            

Thứ hai, CNXH là văn hóa. Sự lựa chọn định hướng của tiến trình phát triển Việt Nam qua hơn 92 năm tất yếu là CNXH. Xét từ chiều sâu bản chất của nó, chủ nghĩa xã hội chính là một hình thái phát triển của văn hóa tương lai. Nói như K.Marx: Chủ nghĩa cộng sản coi như chủ nghĩa tự nhiên hoàn bị = chủ nghĩa nhân đạo. Nói khái quát, đó là văn hóa của sự phát triển mạnh mẽ và bền vững

Hiện nay, trên con đường tiến lên CNXH, dưới sự lãnh đạo của Đảng, càng không thể nằm ngoài quy luật của muôn đời ấy. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định:“Định hướng xã hội chủ nghĩa là văn hóa”(30). Nói cách khác, văn hóa của sự phát triển bền vững của chúng ta, chính là CNXH. Vì, dù hiểu dưới bất cứ góc độ nào, mà ở đây, dưới góc độ văn hóa, thì CNXH chính là một nấc thang phát triển, một trình độ cao của văn hóa. Bởi vậy, điều trở nên rõ ràng, như một tất yếu, định hướng XHCN là văn hóa phát triển bền vững của Việt Nam. Nền văn hóa dân tộc, hiện đại có nghĩa là gìn giữ được và giới thiệu với thế giới những nét hay, nét đẹp của văn hóa Việt Nam, đồng thời tiếp thu một cách có chọn lọc những tinh hoa của văn hóa thế giới để làm giàu cho văn hóa Việt Nam mà vẫn giữ gìn được bản sắc, cốt cách văn hóa Việt Nam, không bị trộn lẫn hay hòa tan vào văn hóa thế giới và góp phần làm phong phú hơn nền văn hóa nhân loại... làm xuất phát điểm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặt vấn đề: Muốn độc lập tự chủ, muốn giữ vững định hướng XHCN, bên cạnh những nhiệm vụ về kinh tế, phải xây dựng thành công một nền văn hóa dân tộc, hiện đại.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo những vấn đề lý luận cơ bản và phương hướng chủ yếu nhằm xây dựng, phát triển một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đó chính là mục tiêu, là động lực của sự phát triển của dân tộc Việt Nam được khởi nguồn, nuôi dưỡng từ truyền thống văn hóa nghìn năm của dân tộc, trong thời đại mới. Từ “Đề cương văn hóa năm 1943 và công cuộc đổi mới hôm nay”, “Ba yêu cầu lớn của công tác tư tưởng văn hóa”, “Sự nghiệp văn hóa ở nước ta: Quan điểm và phương hướng phát triển”... tới “Để góp phần làm cho Tổ quốc ta, dân tộc ta mãi mãi rạng danh là một quốc gia văn hiến, một dân tộc văn hóa”, “Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa, thực hiện công bằng xã hội”(31), “Quyết tâm chấn hưng và xây dựng thành công một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”(32)... hợp thành một hệ thống vấn đề văn hóa làm sâu sắc hơn những quan điểm lý luận cơ bản của Đảng ta về văn hóa và phát triển nền văn hóa Việt Nam trong sự phát triển tòan diện của đất nước, với tư cách: Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi, như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định.

Tổng Bí thư khẳng định và cổ vũ thực tiễn phát triển của nền văn hóa Việt Nam từ các góc độ, các lĩnh vực của văn hóa cụ thể, tất cả tạo nên diện mạo, phong cách, tố chất và bản lĩnh văn hóa Việt Nam phong phú, đa dạng, muôn sắc màu vận động một cách thống nhất trong nền văn hóa XHCN Việt Nam đầy sức sống vừa dân tộc vừa hiện đại, tạo nên cốt cách, khí phách và bản lĩnh sống Việt Nam trên con đường XHCN. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, trong cuộc thách thức "mất còn" hiện nay, xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc càng trở nên quan trọng và cấp bách hơn bao giờ hết.

Từ quan điểm “Văn hóa là hồn cốt của Dân tộc, nói lên bản sắc của Dân tộc. Văn hóa còn thì Dân tộc còn…”(33), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo 6 nhiệm vụ chấn hưng văn hóa dân tộc: Một, khơi dậy mạnh mẽ hơn nữa tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của toàn dân tộc. Hai là, tập trung vào xây dựng con người Việt Nam thời kỳ đổi mới, phát triển, hội nhập. Ba là, phát triển toàn diện và đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, môi trường văn hóa, đời sống văn hóa. Bốn, phát huy vai trò chủ thể sáng tạo, chủ thể thụ hưởng văn hóa của nhân dân, trong đó đề cao, phát huy vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, của những người làm công tác văn hóa. Năm là, công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị về văn hóa, về đạo đức, nâng cao vai trò, năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước, sự tham gia tích cực của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội trong sự nghiệp phát triển văn hóa. Và sáu là, xây dựng môi trường văn hóa số và phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh. Tới đây, lại nhớ ông Bao-lô-xu-ây-xi - một người Mỹ, từng viết trong cuốn sách “Vấn đề chủ nghĩa xã hội thế giới đương đại” của mình, rằng: Nếu CNXH dùng trí lực của nhân loại - giống như K.Marx đã nói - thế thì, rất rõ ràng, ngoài CNXH không có sự cứu thế nào khác.

Kiến giải mối quan hệ giữa "Công cuộc đổi mới và vai trò lãnh đạo của Đảng", Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng giải quyết những vấn đề cơ bản về bản chất của Đảng, các quy luật, các nguyên tắc xây dựng Đảng, từ đó khẳng định sự cần thiết khách quan phát triển văn hóa chính trị mà tập trung thể hiện ở hệ thống chính trị mà rường cột là Đảng cầm quyền với địa vị và những phẩm chất cần có trước yêu cầu phát triển mới của đất nước. Từ yêu cầu này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo tổng kết một cách cơ bản các bình diện tổ chức thực tiễn vĩ mô sự lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới: “Kinh tế thị trường và vai trò lãnh đạo của Đảng”, “Xây dựng Nhà nước XHCN thật sự của dân, do dân và vì dân”, “Cải cách nền hành chính quốc gia: quan điểm và giải pháp”, “Liên hệ chặt chẽ với quần chúng - một bài học lịch sử vô giá”, “Đảng và quần chúng trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội”, “Sự lãnh đạo của Đảng và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân”… Đồng thời, qua đó, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phê phán những nhận thức lệch lạc, tư tưởng sai lầm, luận điệu thù địch cố tình xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bôi nhọ Đảng, phủ định sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng: “Luận điệu mới của các thế lực chống Đảng Cộng sản”, “Về nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng", "Vì sao Đảng Cộng sản Liên Xô tan rã?”(34)...

Tất cả hợp thành một hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản và chủ yếu của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị và phát triển văn hóa chính trị Việt Nam trong cuộc đổi mới, hơn 35 năm qua. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kỳ vọng: “… Với một Đất nước, một Dân tộc trọng văn hiến, trọng hiền tài, giàu truyền thống yêu nước và cách mạng; Nhân dân đoàn kết, cần cù, sáng tạo; đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ tâm huyết, tài năng, có trách nhiệm cao với Nhân dân, với Đảng, với Tổ quốc và tương lai của Dân tộc; cùng với sự vào cuộc quyết liệt, đồng bộ của cả hệ thống chính trị, nhất định chúng ta sẽ khắc phục được mọi khó khăn, vượt qua mọi thách thức để chấn hưng và xây dựng thành công một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp tục làm vẻ vang thêm cho Dân tộc, cho Giống nòi, tạo thành sức mạnh vô song để xây dựng Tổ quốc ta ngày càng cường thịnh, Nhân dân ta ngày càng hạnh phúc, Đất nước ta ngày càng phồn vinh, xứng đáng với truyền thống ngàn năm văn hiến và anh hùng của một Dân tộc anh hùng, sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới”(35).

CNXH là văn hóa, là đạo đức và văn minh được kết tinh và thể hiện tập trung ở Đảng - người dẫn dắt công cuộc đổi mới XHCN toàn diện, đồng bộ - bảo đảm “Đảng vững mạnh, Đất nước phát triển, Dân tộc trường tồn!”(36).

Kiên quyết đổi mới - giữ vững ổn định và phát triển không ngừng

Trong lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn ở tầm vĩ mô, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Đổi mới, ổn định và phát triển không tồn tại biệt lập, không đối lập nhau mà nương tựa vào nhau cùng tạo ra sự phát triển chung của quốc gia. Đổi mới, ổn định và phát triển đu do con người và vì con người”(37).

Con đường và cách thức đi tới mục tiêu trên phải bảo đảm kết hợp chặt chẽ sự kiên định về chiến lược với sự uyển chuyển và mềm dẻo về sách lược. Phải căn cứ vào tình hình cụ thể mỗi giai đoạn để quyết định lựa chọn những phương thức thực hiện phù hợp và hiệu quả. Mặt khác, phải thận trọng lựa chọn đúng, trúng những mắt khâu trọng điểm, có tính chất đột phá, tập trung sức đủ mạnh giải quyết một cách dứt điểm, hiệu quả tạo đà giải quyết đồng bộ và toàn diện các vấn đề của đời sống kinh tế, xã hội. Nói cách khác, đổi mới - ổn định - và phát triển phải được xem là phương châm chỉ đạo hàng đầu của sự phát triển XHCN.

Vì thế, càng phải nắm vững và khẳng định, đổi mới chính trị không phải là làm thay đổi chế độ chính trị, thay đổi bản chất của Đảng ta, Nhà nước ta, mà là đổi mới cơ chế, chính sách, tổ chức bộ máy, kiện toàn nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đổi mới phương thức công tác, lề lối làm việc, cải cách hành chính, chống tệ quan liêu, lãng phí, tham nhũng gây phiền hà cho dân, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan trong hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia. Điều đó xua tan những ý kiến còn bối rối hay ngại ngần khi nói đến đổi mới chính trị, càng xa lạ, đối lập như nước với lửa với những ai đó đang cổ xúy quá khích cho cái gọi là “đổi mới chính trị là thay đổi chế độ chính trị”(!). Nói cách khác, đổi mới chính trị là đổi mới tư duy, tìm tòi phương lược, hoạch định cơ chế, lộ trình phù hợp, giải quyết đúng đắn quy luật về các mối quan hệ chính trị trong phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Tất cả nhằm thực hiện mục tiêu cao cả: Bảo vệ và phát triển lợi ích của mỗi người, của từng tổ chức trong xã hội, làm nền tảng lợi ích tối thượng của quốc gia Việt Nam XHCN trong thế giới đương đại. Nói cụ thể, lợi ích chính trị của đất nước Việt Nam phải là hạt nhân mà mọi sự đổi mới chính trị dù ở góc độ nào, mức độ tới đâu và bất cứ phương diện nào... đều phải xoay chung quanh nó, dưới ngọn cờ của Đảng.

Chưa bao giờ như bây giờ, lịch sử dân tộc càng cho thấy, lợi ích quốc gia - dân tộc của chúng ta là cụ thể: sự toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng và quyền tự quyết dân tộc vô giá! Không có độc lập tự do, chúng ta không thể giữ vững nền chính trị, càng không thể nói về đổi mới hay cải cách chính trị hay đổi mới kinh tế...

Đó là cái bất biến chúng ta cần nắm chắc, để chủ động hành xử trước mọi sự đổi thay của thời cuộc, của thế giới trong lộ trình giữ vững ổn định, không ngừng đổi mới, vì sự phát triển đất nước hùng cường.

Theo đó, một cách tự nhiên, tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ hiện nay, không gì khác ngoài mục tiêu phát triển của đất nước. Đổi mới để phát triển và phát triển là thước đo của đổi mới và ổn định. Vì vậy, hiện nay, phải lấy sự phát triển đất nước làm mục tiêu và động lực của sự ổn định cao hơn và bền vững, và đến lượt nó, sự ổn định làm nền móng và động lực của sự phát triển không ngừng. Đó là đẳng cấp mới về mối quan hệ “đổi mới, ổn định và phát triển”.

Việc đẩy nhanh tốc độ phát triển của đất nước sẽ kém hiệu quả hay trở thành ảo tưởng được quyết định ở chỗ, chúng ta có xây dựng được hay không những động lực căn bản và đủ mạnh hay không. Đây là nhân tố bảo đảm sự ổn định đất nước và cũng chính là phát triển đất nước trong công cuộc đổi mới. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Có thể nói, mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển là vấn đề có tính quy luật trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta. Con đường và xu thế tất yếu của phát triển Việt Nam thời kỳ đương đại chỉ có thể là đổi mới, mở cửa, tích cực hội nhập quốc tế”(38).

Mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH phải trở thành nhân tố quán xuyến và điều chỉnh tất cả các quan hệ “hợp tác và đấu tranh”, trong mọi sự khác biệt và tương đồng về lợi ích giai cấp và dân tộc, tầng lớp này và tầng lớp khác, cộng đồng và cá nhân, trong nước và ngoài nước, nước ta và nước khác..., trên tất cả các phương diện kinh tế, chính trị, ngoại giao, an ninh, quốc phòng..., ở mọi bình diện lợi ích về chính trị tư tưởng hay vật chất và tinh thần... thông qua một hệ chính sách đúng đắn, phù hợp và hiệu quả nhằm tạo thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước.                  

Nói khái quát, chúng ta giải quyết đúng đắn và hiệu qủa mối quan hệ giữa nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài, giữa nhân tố nội sinh và nhân tố ngoại lực, giữa nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan, trên nền tảng pháp lý và truyền thống nhằm vừa bảo đảm độc lập tự chủ vừa tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế để phát triển đất nước. Nếu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, bền vững và ngang tầm thời đại là con đường XHCN Việt Nam thì động lực chủ yếu của đất nước trên con đường ấy là đại đoàn kết toàn dân tộc gắn chặt với đại đoàn kết quốc tế là động lực quan trọng, bảo đảm sự ổn định, đổi mới và phát triển đất nước.

 

(29)Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 21.

(30)Nguyễn Phú Trọng: Vì một nền văn hóa Việt Nam dân tộc, hiện đại, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2002,  tr.62.

(31)Nguyễn Phú Trọng: Vì một nền văn hóa Việt Nam dân tộc, hiện đại, Sđd,  tr. 78.

(32)Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 157.

(33) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd,  tr. 157.

(34)Nguyễn Phú Trọng: Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình đổi mới đất nước, Sđd, tr. 307.

(35)Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 177.

(36)Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 213.

(37) GS, TS.Nguyễn Phú Trọng (chủ biên): Về các mối quan hệ lớn cần được giải quyết tốt trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hộiSđd, tr. 24.

(38) GS. TS. Nguyễn Phú Trọng (Chủ biên): Về các mối quan hệ lớn cần được giải quyết tốt trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội, Sđd, tr. 43.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng Đảng

Bài cuối: Biến quyết tâm thành hành động thực tiễn
Chính trị

Bài cuối: Biến quyết tâm thành hành động thực tiễn

Nghị quyết số 57 thể hiện cam kết mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước trong việc huy động sức mạnh toàn diện của hệ thống chính trị và xã hội nhằm tạo xung lực mới cho phát triển đất nước. Nghị quyết xác định đây là “cuộc cách mạng sâu sắc, toàn diện” cần được triển khai “quyết liệt, kiên trì, đồng bộ, nhất quán, lâu dài” với những giải pháp đột phá​. Nhiệm vụ hiện nay là biến quyết tâm đó thành hành động thực tiễn. Muốn vậy, cần có sự vào cuộc mạnh mẽ của toàn hệ thống chính trị và các thành phần kinh tế – xã hội, từ quyết tâm của người lãnh đạo cho đến nỗ lực của từng người dân.

Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Thanh Nghị phát biểu tại Hội thảo
Bảo vệ nền tảng tư tưởng Đảng

Tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận - nền tảng cho mọi quyết sách

Nhấn mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận là nền tảng cho mọi quyết sách, tại Hội thảo khoa học quốc gia công tác lý luận của Đảng và những định hướng nghiên cứu quan trọng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, các đại biểu đề nghị, cần đẩy mạnh gắn kết giữa lý luận và thực tiễn, các cơ quan nghiên cứu cần phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương để triển khai các dự án thí điểm, từ đó rút ra bài học thực tiễn. Xây dựng mạng lưới học giả, nhà nghiên cứu hàng đầu nhằm phát triển các giải pháp lý luận sáng tạo.

Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu tham dự phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 10 khóa XIII
Bảo vệ nền tảng tư tưởng Đảng

Bài cuối: Xây dựng Đảng về văn hóa bắt đầu từ chính mỗi đảng viên

TS. Nhị Lê - Nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản

Trong rất nhiều công việc, cấp bách 6 trọng sự. Trước tiên là bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lenin - “lực lượng tư tưởng hùng mạnh chỉ đạo Đảng chúng tôi, làm cho Đảng chúng tôi có thể trở thành hình thức tổ chức cao nhất của quần chúng lao động, hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc chúng tôi”(24) - Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định - một cách độc lập, sáng tạo nhằm cung cấp tri thức lý luận chính trị hết sức căn bản; đồng thời, đào tạo đảng viên một cách toàn diện về tri thức văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ, tri thức lãnh đạo, quản lý, các kỹ năng “mềm”, năng lực công nghệ hiện đại… làm nền tảng xây dựng và phát triển văn hóa Đảng và văn hóa của đảng viên.

Toàn cảnh Phiên khai mạc Hội nghị Trung ương 10 khóa XIII
Chính trị

Bài 2: Dự báo những nhân tố phi văn hóa, phản văn hóa trong xây dựng, thực hành văn hóa của đảng viên

“Đảng ta không phải từ trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra”(22). Hơn nữa, “Đảng ta là một Đảng rất to lớn, bao gồm đủ các tầng lớp trong xã hội. Vì vậy, có nhiều tính cách rất trung thành, rất kiên quyết, rất vĩ đại. Song cũng không tránh khỏi những tập tục, những tính nết, những khuyết điểm của xã hội bên ngoài, nó lây, ngấm vào trong Đảng”(23).

Toàn cảnh Hội nghị Trung ương 10 khóa XIII
Chính trị

Bài 1: Văn hóa Đảng - dòng chủ lưu và phát triển trong dòng chảy văn hóa dân tộc

Lời Tòa soạn: Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, việc xây dựng và phát triển văn hóa đảng viên không chỉ là yêu cầu cấp thiết, mà còn là nền tảng cho sự bền vững của Đảng và dân tộc. Báo Đại biểu Nhân dân trân trọng giới thiệu loạt bài của TS. Nhị Lê, Nguyên Phó Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản với chủ đề “Dưới ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh – Phát triển văn hóa của đảng viên trong kỷ nguyên mới”.

toàn cảnh Hội thảo
Chính trị

Lý luận phải đồng hành, vươn lên dẫn đường cho thực tiễn trong kỷ nguyên mới

Tại Hội thảo quốc gia về Công tác lý luận của Đảng và những định hướng nghiên cứu quan trọng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, các đại biểu nhấn mạnh, cần tiếp tục quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn gắn với đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu một cách thiết thực, khoa học, hiệu quả, bảo đảm lý luận phải đồng hành với thực tiễn và vươn lên dẫn đường cho thực tiễn trong kỷ nguyên mới.

Hội nghị Trung ương 10 khóa XIII thảo luận nhiều vấn đề quan trọng chuẩn bị cho Đại hội XIV của Đảng.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng Đảng

Bài cuối: Hết sức bền bỉ, công phu, tăng "sức đề kháng" để bảo vệ Đảng

Xây dựng văn hóa trong Đảng phải hết sức bền bỉ, công phu, thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp. Phải làm cho toàn Đảng, từng tổ chức đảng, từng cán bộ, đảng viên có nhận thức đúng về văn hóa Đảng, làm văn hóa Đảng trở thành những giá trị đặc trưng cho một đảng cách mạng chân chính và hiện đại, thành nhu cầu trong Đảng và của đảng viên. Phải làm cho Đảng tăng sức đề kháng để bảo vệ mình vì suy đến cùng sức mạnh của Đảng là sức mạnh về văn hóa.

Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng
Quốc hội và Cử tri

Bài 3: Xây dựng những cán bộ tốt, đảng viên tốt

Trong bối cảnh hiện nay, nước ta phải hướng đến xây dựng những cán bộ tốt hay cụ thể hơn, đó là những đảng viên tốt. Đảng chú trọng công tác cán bộ vừa là quyền hạn nhưng cũng là trách nhiệm trước sự tồn vong của Đảng, sự hưng thịnh của đất nước, của chế độ. Để đi tới được kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, thì Đảng phải quản trị cho được đội ngũ cán bộ thật sự toàn diện, nghiêm minh. Có được cán bộ, đảng viên tốt, văn hóa trong Đảng cũng tăng lên theo tỷ lệ thuận.

Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa.
Chính trị

Bài 2: Mỗi đảng viên tự nêu gương thì hàng triệu đảng viên là những tấm gương sáng

Để tiếp tục phát huy vai trò của cán bộ, đảng viên trong xây dựng văn hóa Đảng, Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 9.5.2024 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên giai đoạn mới đã được ban hành. Có thể thấy, nếu mỗi cán bộ, đảng viên, người đứng đầu cơ quan, đơn vị hiểu rõ và tự giác thực hiện đầy đủ Quy định 144 - QĐ/TW, thì đây chính là công cụ hữu hiệu để ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, sự xói mòn về phẩm chất đạo đức, tệ tham ô, tham nhũng, lãng phí, xa rời quần chúng. Mỗi cán bộ, đảng viên tự nêu gương thì hàng triệu đảng viên sẽ là những tấm gương sáng, toàn Đảng sẽ thực sự trong sạch, vững mạnh, gắn bó máu thịt với Nhân dân.

Toàn cảnh Hội thảo khoa học quốc gia những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng văn hóa trong Đảng trong giai đoạn mới ngày 15.1.2025
Chính trị

Bài 1: Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh - hồn cốt của văn hóa trong Đảng

Lời Tòa soạn: Văn hóa trong Đảng là những giá trị văn hóa tốt đẹp mà Đảng ta đã lựa chọn, vun đắp, xây dựng, đổi mới và phát triển trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đó là những giá trị văn hóa được kết tinh từ truyền thống văn hóa dân tộc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước; được tiếp thu, bổ sung những giá trị tinh hoa của văn hóa nhân loại trong thời đại mới, với nền tảng, hạt nhân là chủ nghĩa Mác-Lênin; được khơi nguồn, soi sáng và dẫn dắt bởi tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; được kiểm nghiệm, khẳng định trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Báo Đại biểu Nhân dân giới thiệu loạt bài về "Xây dựng văn hóa trong Đảng" với mong muốn cung cấp thêm thông tin về chủ đề đặc biệt quan trọng này.

Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Nguyễn Đình Khang phát biểu khai mạc Hội nghị quán triệt, triển khai Luật Công đoàn 2024. Ảnh: Hải Nguyễn
Bảo vệ nền tảng tư tưởng Đảng

Bài cuối: Minh chứng hùng hồn nhất bác bỏ những luận điệu xuyên tạc

Trước mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch và việc Việt Nam buộc phải cụ thể hóa quy định thành lập “Tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp” theo cam kết quốc tế, tổ chức Công đoàn Việt Nam cần nâng cao vai trò, sứ mệnh của mình, để người lao động tin tưởng, gắn bó với “mái nhà chung” – nơi đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của họ. Đây là câu trả lời xác đáng, minh chứng hùng hồn nhất bác bỏ những luận điệu xuyên tạc.

Liên đoàn Lao động tỉnh Kiên Giang bàn giao nhà Mái ấm Công đoàn tặng đoàn viên công đoàn. Ảnh: Mỹ Linh
Bảo vệ nền tảng tư tưởng Đảng

Bài 4: Vững tin trước những luận điệu sai trái, xuyên tạc

Ngoài đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích đoàn viên, người lao động, Công đoàn Việt Nam luôn đi đầu phát động, tổ chức các phong trào thi đua yêu nước; là chỗ dựa tinh thần vững chắc để công nhân, lao động tin vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, tin vào sứ mệnh của tổ chức Công đoàn Việt Nam. Qua đó, tăng sức đề kháng cho công nhân lao động trước những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch trên không gian mạng.

Người biểu tình đốt phá nhà ở thủ đô Dhaka, Bangladesh vào tháng 7.2024
Chính trị

Bài 3: Mưu đồ chiến lược “không đánh mà thắng”

Việc các thế lực phản động trong nước, quốc tế câu kết với nhau, dùng con bài dân chủ, nhân quyền mà trực tiếp là con bài “Công đoàn độc lập” để ép Việt Nam phải đi theo quỹ đạo của chúng vạch ra thực chất là để thực hiện mưu đồ chiến lược “không đánh mà thắng”.

Biểu tình của Công đoàn Đoàn kết tại thành phố Kraków, Ba Lan, tháng 5.1989. Ảnh: Tư liệu
Bảo vệ nền tảng tư tưởng Đảng

Bài 2: Làm xáo trộn niềm tin, gây mất đoàn kết

Thực chất con bài “Công đoàn độc lập” chỉ là cái vỏ. Mục đích của các thế lực thù địch trong, ngoài nước là làm cho niềm tin của công nhân, người lao động trong nước bị xáo trộn, gây mất đoàn kết để tiến tới mục tiêu xa hơn là tạo ra lực lượng đối lập, sử dụng phương thức đấu tranh bất bạo động, gây bất ổn chính trị tiến tới sử dụng “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” để lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Những bài viết kêu gọi thành lập công đoàn độc lập đăng tải trên không gian mạng
Bảo vệ nền tảng tư tưởng Đảng

Bài 1: “Công đoàn độc lập” – “mũi tiến công số một”

Những năm gần đây, cụm từ “Công đoàn độc lập” được nhắc rất nhiều trên truyền thông đại chúng. Đặc biệt, từ cuối tháng 4, đầu tháng 5.2024, khi biết kế hoạch tổ chức Phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc và Hội nghị thượng đỉnh Geneva về nhân quyền và dân chủ tổ chức, hàng loạt câu hỏi đặt ra là: tại sao lại có hiện tượng này; tổ chức nào và ai là những kẻ đứng sau; thực hiện nhằm mục đích gì trong khi tại Việt Nam có đầy đủ hệ thống công đoàn được pháp luật quy định?

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp với Thường trực các Tiểu ban chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng và Ban Chỉ đạo tổng kết 40 năm Đổi mới cho ý kiến về những chủ trương lớn vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng
Việt Nam với kỷ nguyên mới

Bài cuối: Phát triển nguyên tắc đổi mới và phát triển kỷ nguyên mới

TS. Nhị Lê - Nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản

Đổi mới là một yêu cầu khách quan, một đòi hỏi của chính thực tiễn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước ta, nhằm nhận thức đúng hơn về CNXH, khắc phục những mặt trì trệ, đẩy nhanh quá trình xây dựng xã hội XHCN một cách hợp quy luật, đạt hiệu quả cao, củng cố và tăng cường CNXH.

Bài 1: Mệnh lệnh phát triển đất nước và phát triển nguyên tắc kiến tạo kỷ nguyên mới
Chính trị

Bài 1: Mệnh lệnh phát triển đất nước và phát triển nguyên tắc kiến tạo kỷ nguyên mới

TS. Nhị Lê - Nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản

Lời Tòa soạn: Để góp phần tổng kết lý luận và thực tiễn 40 năm đổi mới, chuẩn bị Đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội lần thứ XIV của Đảng, Báo Đại biểu Nhân dân giới thiệu loạt bài của TS. Nhị Lê, nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản với chủ đề “Mệnh lệnh đổi mới và phát triển nguyên tắc kỷ nguyên mới”.

Một số tiết mục tại Chương trình nghệ thuật đặc biệt mừng Đảng, mừng Xuân, mừng đất nước đổi mới với chủ đề "95 năm - Ánh sáng soi đường" do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với UBND TP. Hà Nội và các đơn vị liên quan tổ chức. Ảnh: Lâm Hiển
Bảo vệ nền tảng tư tưởng Đảng

Bài 2: Đảng là đạo lý và trí tuệ Việt Nam

TS. Nhị Lê - Nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản

Năng lực và trách nhiệm cầm quyền của Đảng hiện nay, tối thiểu về phương diện đổi mới tư duy và tổ chức thực tiễn, nổi bật 10 loại vấn đề mang tính quy luật và quy luật chính trị mang ý nghĩa phương pháp luận cơ bản và cấp bách cần giải quyết.