Bài 2: Mong manh thoát nghèo - tái nghèo
Mặc dù tỷ lệ hộ nghèo giảm đều qua các năm, song kết quả giảm nghèo của tỉnh Thừa Thiên Huế vẫn chưa thực sự bền vững. Hộ nghèo, cận nghèo tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn và vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS, biên giới. Hơn nữa, ranh giới giữa thoát nghèo - tái nghèo của một bộ phận còn rất mong manh…
Nguy cơ tái nghèo còn cao
Những năm qua, các chính sách đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo đã tạo chuyển biến rõ nét về diện mạo hạ tầng cũng như đời sống của người dân trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo ở một số địa phương chưa bền vững; nguy cơ tái nghèo còn cao. Đơn cử như huyện miền núi A Lưới, dù đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ song toàn huyện vẫn còn 7.022 hộ nghèo; 2.185 hộ cận nghèo. Riêng xã biên giới A Roàng có đến 517 hộ nghèo, 73 hộ cận nghèo.
Hay như Phong Điền, toàn huyện hiện có 1.132 hộ nghèo với 2.446 khẩu (chiếm 3,8%). Trong đó, Điền Hương là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất (7,59%). Tương tự với Nam Đông, toàn huyện cũng đang có hơn 200 hộ DTTS nghèo trên tổng số 325 hộ nghèo; 216/309 hộ cận nghèo. Khảo sát theo phiếu điều tra hộ nghèo gần đây của các địa phương cho thấy, nguyên nhân gây nghèo do người dân không có đất, vốn, lao động, phương tiện, kiến thức và kỹ năng lao động sản xuất; một số có hộ gia đình có người bị tai nạn, mắc bệnh nặng...
Tại xã Bình Tiến - địa phương được xem là “lõi nghèo” của huyện Hương Trà hiện cũng đang có 70 hộ nghèo, 104 hộ cận nghèo. Trong đó, hộ nghèo, cận nghèo là người đồng bào DTTS chiếm lần lượt 54,28% và hơn 73% số hộ nghèo, cận nghèo toàn xã… Chủ tịch UBND xã Nguyễn Trung Kiên cho biết, hệ thống cơ sở hạ tầng của xã chưa đáp ứng nhu cầu phát triển; hướng phát triển kinh tế của người dân vẫn chủ yếu dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp (hơn 90%). "Nguy cơ gia tăng khoảng cách về phát triển kinh tế - xã hội của Bình Tiến so với mặt bằng chung là rất lớn”, ông Kiên cho biết.
Cũng như các địa phương khác trên địa bàn tỉnh, thành phố Huế sau khi mở rộng, sáp nhập cũng đang rơi vào tình trạng hộ nghèo và cận nghèo tăng cao. Toàn thành phố hiện có 2.083 hộ nghèo, với 6.210 nhân khẩu (chiếm 1,62%); 2.766 hộ cận nghèo, với 10.028 nhân khẩu (chiếm 2,15%). Số hộ nghèo, cận nghèo khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn (1.572 hộ nghèo, 2.158 hộ cận nghèo)… Đơn cử như Thủy Biều, toàn phường vẫn còn 110 hộ nghèo, cận nghèo. “Giúp hộ nghèo vươn lên thoát nghèo là vấn đề khó khăn của địa phương. Hầu hết hộ nghèo thuộc hộ chính sách bảo trợ xã hội, có người ốm đau kéo dài, không có khả năng lao động nên khó để thoát nghèo”, Chủ tịch UBND phường Võ Đăng Thái trăn trở.
Theo lãnh đạo nhiều địa phương, mặc dù chính sách giảm nghèo thời gian qua được thiết kế theo hướng hạn chế “cho không”, tăng “cho vay”. Song, chủ trương này chưa thật sự hiệu quả khi chính sách giảm nghèo vẫn xem người nghèo là đối tượng trợ giúp xã hội chứ không phải là đối tác để phát triển. Chính vì quan điểm tiếp cận này mà chính sách giảm nghèo vẫn đang nghiêng về “trao con cá” thay vì “trao cần câu và dạy cách câu”.

Ảnh: Bá Trí
Nguồn lực hạn chế
Kết quả rà soát hộ nghèo năm 2021 theo chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020, tỉnh Thừa Thiên Huế có 9.703 hộ nghèo (chiếm 2,99%); 12.104 hộ cận nghèo (chiếm 3,73%). Tuy nhiên, nếu tính theo tiêu chí quy định tại Nghị định số 07/2021/NĐ-CP về chuẩn nghèo, cận nghèo giai đoạn 2021 - 2025, kết quả điều tra còn cao hơn. Cụ thể, có 16.008 hộ nghèo (4,93%); 12.816 hộ cận nghèo (3,95%); có 4.624 nhà tạm cần phải xóa.
Qua rà soát cũng cho thấy, hộ nghèo và cận nghèo tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn và các địa phương vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS, giáp ranh biên giới. Khu vực thành thị có tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo thấp hơn. Hộ nghèo và cận nghèo không có khả năng lao động (bảo trợ xã hội) cũng chiếm tỷ lệ cao… Bên cạnh đó, có 7 chỉ số thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trên 30% đối với hộ nghèo (việc làm, người phụ thuộc, dinh dưỡng, bảo hiểm y tế, nhà vệ sinh, dịch vụ viễn thông, tiếp cận thông tin); có 3 chỉ số thiếu hụt trên 20% đối với hộ cận nghèo (việc làm, bảo hiểm y tế, dịch vụ viễn thông).
Theo TS. Dương Ngọc Phước (Trường Đại học Huế), khoảng cách chênh lệch này xuất phát từ nhiều nguyên nhân như: Điều kiện tự nhiên, điều kiện sản xuất, năng lực và trình độ nhận thức, tập quán sinh sống của đồng bào DTTS, người dân vùng bãi ngang ven biển; một số chính sách, dự án giảm nghèo còn dàn trải, chưa phù hợp với từng nhóm đối tượng đặc thù. Tâm lý ỷ lại, trông chờ, chưa nỗ lực vươn lên tự thoát nghèo của người dân cũng là rào cản ảnh hưởng đến kết quả giảm nghèo.
Đánh giá của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế cũng cho thấy, công tác giảm nghèo bền vững trên địa bàn còn không ít tồn tại, hạn chế. Trong đó, khối lượng công việc quá nhiều trong khi địa phương, cơ sở thiếu người nên việc rà soát có lúc còn chậm; công tác phối hợp giữa các cơ quan, ban ngành cấp huyện, xã trong triển khai công tác giảm nghèo có lúc, có nơi chưa đồng bộ; việc xác định nguyên nhân nghèo còn chưa chính xác, dẫn đến việc đề xuất các giải pháp hỗ trợ còn chậm, khó thực hiện; việc lựa chọn một mô hình phù hợp với người nghèo để giúp hộ nghèo, cận nghèo còn khó khăn do điều kiện từng vùng và tập quán khác nhau…
Bên cạnh đó, công tác lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp ủy, chính quyền địa phương chỉ mới tập trung thực hiện các chính sách hỗ trợ, khắc phục khó khăn trước mắt, việc tạo sinh kế để giảm nghèo bền vững còn hạn chế. Một bộ phận hộ nghèo thuộc diện cao tuổi, không có khả năng lao động, nên khó khăn trong triển khai các giải pháp thoát nghèo. “Một bộ phận còn trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa ý thức và nỗ lực tự vươn lên; ngân sách hỗ trợ và các nguồn lực huy động hỗ trợ hộ nghèo còn hạn chế, việc triển khai nguồn vốn chậm…”, lãnh đạo UBND tỉnh cho biết.