Án tồn đọng vì Covid - 19 

Xem với cỡ chữ
Theo thống kê của Tòa án Nhân dân (TAND) tỉnh Sóc Trăng, hiện tòa án này có 34 án quá hạn luật định (tăng 18 vụ so với cùng kỳ) và phần lớn là do dịch bệnh ảnh hưởng đến việc thu thập, giao nộp tài liệu chứng cứ, triệu tập đương sự, việc ủy thác tư pháp để tống đạt cho đương sự ở nước ngoài. Ngoài ra, hiện có khoảng 38 vụ án đủ điều kiện nhưng chưa mở phiên tòa xét xử được do các đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác cư trú ở vùng có dịch (chiếm 10,6% án tồn). Còn TAND TP. Thủ Đức tồn đọng hơn 500 vụ cũng vì Covid -19…

Đây là tình trạng chung của rất nhiều địa phương khi dịch bệnh kéo dài. Trước thực tế này, TAND Tối cao xây dựng Dự thảo quy chế tổ chức phiên tòa, phiên họp trực tuyến (Dự thảo quy chế) để áp dụng trong trường hợp các địa phương thực hiện một số biện pháp giãn cách để phòng, chống Covid-19. Hiện, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật Tố tụng hành chính đều có các quy định về tố tụng điện tử, tố tụng trực tuyến, tạo cơ sở bước đầu cho việc tổ chức phiên tòa trực tuyến. Thực tế, thời gian qua, một số tòa án khi tổ chức phiên tòa hình xét xử vụ án xâm hại tình dục, tham nhũng đã cho luật sư, bị hại, người làm chứng… tham gia phiên tòa tại phòng cách ly hoặc phòng khác với sự hỗ trợ của thiết bị điện tử.

Theo Dự thảo quy chế, phiên tòa trực tuyến gồm điểm cầu trung tâm và điểm cầu tham gia. Điểm cầu trung tâm được lập tại tòa án hoặc địa điểm khác. Thành phần tham gia gồm: Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân các cấp, đương sự, bị hại cùng người bảo vệ quyền lợi hoặc người bào chữa, người tham gia tố tụng khác. Điểm cầu tham gia (đối với vụ án hình sự) được đặt tại cơ sở giam giữ. Nếu phiên tòa không thể bố trí điểm cầu tại cơ sở giam giữ thì có thể đặt tại trụ sở TAND cấp huyện hoặc tỉnh ở nơi có cơ sở giam giữ. Đối với vụ án hành chính hay vụ việc dân sự, điểm cầu tham gia được đặt tại nơi đương sự lựa chọn và phải được tòa án chấp nhận.

Dự thảo quy chế cũng đề xuất phòng xử án phải được trang bị hệ thống trực tuyến riêng biệt như: Hệ thống chiếu sáng; đường truyền và thiết bị mạng; âm thanh; thiết bị hiển thị hình ảnh, giải mã tín hiệu truyền hình, phần mềm truyền hình trực tuyến; camera ghi hình; thiết bị lưu trữ dữ liệu; máy chiếu và bộ lưu điện.

Theo Dự thảo quy chế, phiên tòa xét xử trực tuyến phải được ghi âm, ghi hình có âm thanh để lưu trữ dưới dạng dữ liệu điện tử. Người tham gia phiên tòa không quay phim, chụp ảnh hoặc phát tán tài liệu, phát trực tiếp (livestream) phiên xử lên mạng xã hội. Đặc biệt, Dự thảo quy chế đề xuất chỉ xét xử trực tuyến các vụ án hình sự mà bị cáo bị xét xử tội danh có hình phạt dưới mức đặc biệt nghiêm trọng (dưới 15 năm tù); các vụ án có chứng cứ rõ ràng và bị cáo đang bị tạm giam; không xét xử trực tuyến các vụ án hình sự, hành chính, dân sự có tài sản ở nước ngoài…

Có thể thấy, xét xử trực tuyến là giải pháp góp phần để ngành tòa án thực hiện nhiệm vụ “kép”. Tuy nhiên, để có thể xét xử trực tuyến ngoài vấn đề con người (thông thạo máy tính, sử dụng internet…) thì cơ sở hạ tầng thiết bị, đường truyền, bảo vệ phiên tòa phải bảo đảm. Đây là khó khăn lớn cho các địa bàn vùng sâu, xa, tỉnh nghèo. Nên chăng việc xét xử trực tuyến cần tổ chức thí điểm, từ đó tổ chức rút kinh nghiệm, mới nhân rộng toàn quốc.

Đình Khoa