An ninh lương thực và đồng bằng sông Cửu Long 

Xem với cỡ chữ

Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), an ninh lương thực được hiểu là sự bảo đảm trên các trụ cột: sự sẵn có của lương thực; khả năng tiếp cận của người dân; sử dụng lương thực dinh dưỡng và an toàn; sự ổn định của nguồn cung lương thực.

Theo đánh giá về chỉ số an ninh lương thực toàn cầu gần đây, dựa vào các tiêu chí về sự sẵn có của thực phẩm, khả năng tiếp cận của người dân và chất lượng an toàn thực phẩm cho thấy, top 10 nước có chỉ số cao nhất không có Việt Nam, trong khi chúng ta đứng hàng thứ ba thế giới về xuất khẩu gạo. Việt Nam xếp thứ 54, chỉ vài bậc trên Indonesia, Philippines, Morocco, Ai Cập và thậm chí đứng sau cả những quốc gia mua gạo của Việt Nam. Đáng chú ý Singapore không có đất trồng lúa, gạo sử dụng từ nhập khẩu lại có chỉ số an ninh lương thực đứng hàng đầu trong bảng xếp hạng này. Qua đó cho thấy, an ninh lương thực dựa vào lúa nhưng không có chính sách phù hợp để bảo đảm nguồn cung và phân phối bảo đảm chất lượng an toàn thực phẩm và sự ổn định của nguồn cung sẽ không thể bảo đảm an ninh lương thực đầy đủ theo xu hướng mới.

Từ những phân tích trên đây, để bảo đảm an ninh lương thực trong tình hình mới, đồng thời duy trì nhu cầu phát triển kinh tế nông nghiệp, đề nghị Chính phủ quan tâm nghiên cứu xây dựng luật hoặc pháp lệnh về an ninh lương thực quốc gia và sức khỏe của Nhân dân. An ninh lương thực là tình huống mang tầm vóc quốc gia, có khi mang tính chất khẩn cấp, có khi mang tính chất lâu dài, do đó, cần phải có khung pháp lý phù hợp cho mọi tình huống. Luật hoặc pháp lệnh về vấn đề này cần quy định bảo đảm nguồn lực và tổ chức thực hiện 4 trụ cột gồm: nguồn cung, khả năng tiếp cận, sử dụng an toàn dinh dưỡng và ổn định nguồn cung.

Liên quan đến vấn đề an ninh lương thực, hiện nay, đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã và đang thực hiện tốt kinh tế nông nghiệp và đóng góp quan trọng bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Thành tích là thế nhưng khu vực này đang đối diện với tụt hậu về kinh tế và đang dần trở thành gánh nặng cho ngân sách quốc gia. Thực tế cho thấy, phần lớn các tỉnh trong vùng còn nhận ngân sách hỗ trợ từ Trung ương. Từ năm 2008, GDP bình quân của vùng đã lùi xa phía sau đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ. Thu nhập của người dân vùng ĐBSCL hiện chưa ổn định, lệ thuộc rất nhiều vào thị trường nông sản với điệp khúc “được mùa mất giá”.

Người dân vùng ĐBSCL vô cùng cảm kích sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với phát triển kinh tế - xã hội và ứng phó với biến đổi khí hậu, lũ lụt, hạn mặn, sạt lở trong thời gian qua. Tuy nhiên, với những tiềm năng của mình, ĐBSCL có thể đóng góp tốt hơn cho nền kinh tế quốc gia. Cần có chiến lược phát triển ĐBSCL là một vùng kinh tế trọng điểm của quốc gia trong giai đoạn 2021 - 2025, tầm nhìn 2030 - 2045. Trong đó, về nông nghiệp và thủy sản, cần nhanh chóng có chính sách nâng cao giá trị và hiệu quả sản xuất nông nghiệp cho vùng; phát triển nông nghiệp công nghệ cao và thực hiện kinh tế hợp tác nông nghiệp và thủy sản; nhanh chóng nâng cao khả năng cạnh tranh, hiệu quả đầu tư, an toàn thực phẩm và tham gia chuỗi phân phối toàn cầu.

Bên cạnh đó, với lợi thế của 700km chiều dài bờ biển và là vùng cửa ngõ quốc tế giao lưu với khu vực Đông Nam Á và vùng Ấn Độ Dương, vùng đất 40.600km2 này có điều kiện và tiềm năng rất lớn để phát triển kinh tế biển và thu hút đầu tư từ cửa ngõ biển. Với 90% lượng gạo xuất khẩu, 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản và 70% rau quả cả nước, ĐBSCL có nhu cầu rất lớn trong phát triển hạ tầng logistics phục vụ xuất khẩu. Việc vận chuyển các sản phẩm này đến các khu vực TP Hồ Chí Minh, Vũng Tàu làm gia tăng chi phí, giảm khả năng cạnh tranh cho nông sản Việt Nam trên trường quốc tế. Các hệ thống cảng biển trong vùng hiện tại cũng chưa đáp ứng các nhu cầu của các tàu trọng tải lớn phục vụ cho chuỗi logistics. Do đó, phát triển hạ tầng cảng biển nước sâu và hệ thống giao thông nối kết cho ĐBSCL sẽ là chiến lược thiết yếu cho vùng trong thời gian tới. Quan trọng hơn, hệ thống cảng biển nước sâu cho vùng sẽ là điểm nhấn quan trọng cho các nhà đầu tư quan tâm đến vùng, mở rộng định hướng khai thác, phát triển tiềm năng cho vùng trong tương lai.

Việc phát triển kinh tế cảng biển nước sâu đã được nghiên cứu và đề xuất từ những giữa năm 2000. Bộ Giao thông Vận tải cũng vừa có các thủ tục đánh giá khả thi. Đề nghị Chính phủ sớm triển khai các thủ tục pháp lý và phương án đầu tư, kêu gọi đầu tư phù hợp để ĐBSCL phát huy được hết tiềm năng của mình, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia trong thời gian tới nói chung và bảo đảm an ninh lương thực quốc gia nói riêng.

ĐBQH Hồ Thanh Bình (An Giang)