Nguy cơ lỡ hẹn mục tiêu về cấp nước sạch

- 14:25, 26/04/2022 - Đ. Thanh
“Việt Nam đang có nguy cơ lỡ hẹn đối với mục tiêu năm 2025: 95 - 100% người dân thành thị và 93 – 95% người dân nông thôn có nước sạch để dùng”. Ông Nguyễn Quang Đồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông (IPS) cho biết tại tọa đàm “Dịch vụ cung cấp nước sạch tại Việt Nam: Thị trường và các vấn đề chính sách”, do IPS tổ chức sáng 26.4.
Toàn cảnh tọa đàm

Tỷ lệ tiếp cận nước sạch chỉ khoảng trên 60%

Trong tiến trình hướng đến mục tiêu mọi người bình đẳng trong tiếp cận nước sạch, Việt Nam đã tiến hành xã hội hóa, kêu gọi tư nhân tham gia cung cấp dịch vụ công thiết yếu này cho xã hội. Theo TS. Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, dù chủ thể thực hiện cung cấp dịch vụ công là Nhà nước, tư nhân hay các thiết chế xã hội dân sự, trách nhiệm bảo đảm cung cấp thực hiện dịch vụ là của Nhà nước. Trong đó, phải bảo đảm 3 nguyên tắc cơ bản là “tính liên tục, quyền tiếp cận bình đẳng của mọi người dân và giá cả phù hợp”.

Trên thực tế, soi chiếu với các nguyên tắc trên, cả về khả năng tiếp cận lẫn tính bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ nước sạch, đều chưa đạt được mục tiêu mong muốn. Theo Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, Quốc hội đặt mục tiêu tỷ lệ sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh của dân cư thành thị là 95 - 100% và nông thôn là 93 - 95%. Song, ông Nguyễn Quang Đồng cho rằng, “Việt Nam đang có nguy cơ lỡ hẹn với mục tiêu này”. Đặc biệt, tỷ lệ người dân nông thôn được tiếp cận nước máy rất hạn chế, mới chỉ đạt xấp xỉ 35% số hộ vào năm 2019. Kết quả khảo sát của Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) cũng cho thấy, giai đoạn 2016 – 2020, khoảng trên 60% người dân Việt Nam được tiếp cận nước máy.

Lý giải nguyên nhân này, Viện trưởng IPS cho rằng, do tiến trình xã hội hóa, xây dựng thị trường dịch vụ công nước sạch chưa thực sự hợp lý, hiệu quả. Cụ thể, tiến trình xã hội hóa dịch vụ công nước sạch đã không đi kèm với việc xây dựng một cấu trúc thị trường cung cấp dịch vụ nước sạch hợp lý, trong khi Nhà nước thiếu nguồn lực đầu tư thì đồng thời thị trường vẫn không thu hút hiệu quả đầu tư của tư nhân. Doanh nghiệp tư nhân gặp rủi ro cao khi tham gia thị trường (về giá, về khối lương nước được mua dưới công suất). Doanh nghiệp nhà nước cũng khó khăn khi giá nước thấp, không đủ khả năng mở rộng diện tích cấp nước.

Minh chứng điển hình là giá nước sạch như ở Hà Nội trong khoảng 10 năm qua không điều chỉnh, trong khi giá sản xuất thay đổi và khiến doanh nghiệp không đủ chi phí đầu tư. Đáng chú ý, hiện nay, việc quản lý đang phân mảnh khi có tới 5 bộ cùng quản lý (gồm Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính và Bộ Y tế).

Cần thiết kế chính sách tổng thể để hoàn thiện thị trường kinh doanh nước sạch.

Nên có luật riêng cho thị trường nước

Để bảo đảm quyền tiếp cận nước sạch của người dân như mục tiêu mà Quốc hội đề ra, Viện trưởng IPS Nguyễn Quang Đồng khuyến nghị: “Cần có đánh giá toàn diện và thiết kế một hệ thống chính sách tổng thể để hoàn chỉnh thị trường kinh doanh nước sạch. Tiến trình này nên gắn liền với việc xây dựng Luật về cấp nước và xử lý nước mà Chính phủ đã yêu cầu và Bộ Xây dựng đang triển khai”.

Theo TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), thị trường dịch vụ nước sạch còn nhiều vấn đề chưa hoàn chỉnh, từ khâu tổ chức đến khâu điều tiết, vận hành thị trường. Ông Cung cho rằng, nên có một luật riêng cho thị trường nước, điều chỉnh không chỉ vấn đề cấp nước mà cả vấn đề xử lý nước sinh hoạt. Điều này cũng tương tự như ngành điện có Luật Điện lực, cần có một văn bản ở cấp độ luật để tạo lập khuôn khổ thống nhất, minh bạch cho thị trường nước sạch.

Chia sẻ với các ý kiến trên, đại biểu Quốc hội Nguyễn Quang Huân, Ủy viên Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường lưu ý, thu hút đầu tư tư nhân là cần thiết để mở rộng nguồn cung nước sạch, bảo đảm được quyền tiếp cận nước cho người dân. Tuy nhiên, để tư nhân tham gia, các khuôn khổ, quy định cho thị trường cần được hoàn thiện thêm. Việc xây dựng văn bản luật là cần thiết và Chính phủ nên sớm đề xuất để Quốc hội xem xét. Cùng với đó, cơ chế, chính sách cần được quản lý đồng bộ, hiệu quả từ cấp Trung ương đến cấp địa phương và phải được giám sát thực thi hiệu quả. Ngoài ra, việc bảo đảm phòng chống ô nhiễm nguồn nước cũng đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm an toàn nguồn nước, ông Huân nhấn mạnh.

Đ. Thanh