Luật Doanh nghiệp (sửa đổi)

Nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp nhà nước 

Xem với cỡ chữ
Với nhiều nội dung mới như sửa đổi khái niệm doanh nghiệp nhà nước; sửa đổi quy định cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu... Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ Chín vừa qua được đánh giá đã đạt được mục tiêu hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm góp phần nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cổ đông, nhà đầu tư.

Phân chia doanh nghiệp nhà nước theo mức độ sở hữu

Theo Điều 88 Luật Doanh nghiệp (sửa đổi), doanh nghiệp nhà nước được tổ chức quản lý dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, bao gồm: Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết, trừ doanh nghiệp quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều này.

Khi trình ra Quốc hội cho ý kiến về nội dung này, một số ĐBQH còn băn khoăn về khái niệm doanh nghiệp nhà nước được nêu tại dự thảo Luật với lo ngại, việc thay đổi liên tục khái niệm doanh nghiệp nhà nước không bảo đảm tính nhất quán, tác động đến cách thức quản lý của các doanh nghiệp, tạo ra sự khác biệt trong cách thức quản lý với các doanh nghiệp khác.

ĐBQH Trần Văn Tiến (Vĩnh Phúc) cho rằng, quy định này sẽ tác động tới các tổ chức quản trị, hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp này cũng như việc thu hút tham gia góp vốn của khu vực tư nhân hoặc tổ chức kinh tế khác đối với doanh nghiệp, đến mục tiêu cổ phần hóa và thoái vốn doanh nghiệp. Việc sửa đổi khái niệm về doanh nghiệp nhà nước như dự thảo Luật còn liên quan tới nhiều luật, nghị quyết của Quốc hội, do đó, cần phải sửa đổi, bổ sung để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam. Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị, cần xác định hiện tại số lượng doanh nghiệp mà nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên và đánh giá tác động cụ thể đến các đối tượng chịu tác động trực tiếp một cách toàn diện. Theo đó, phải đáp ứng yêu cầu không tác động xấu, ảnh hưởng đến tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp và thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp, thu hút nguồn vốn từ khu vực tư nhân bảo đảm được nguyên tắc tự chủ, công khai, minh bạch và đề cao trách nhiệm giải trình, phân biệt rạch ròi quản lý nhà nước với quản trị doanh nghiệp, tăng cường kiểm tra, kiểm soát và giám sát đối với hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, không để tiêu cực xảy ra, thất thoát vốn tài sản nhà nước giao cho doanh nghiệp.

ĐBQH Mai Thị Ánh Tuyết (An Giang) nêu thực tế cho thấy, việc quy định về tỷ lệ sở hữu vốn góp hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của Nhà nước tại dự thảo luật trên 50% chưa bảo đảm sự chi phối của Nhà nước đối với các quyết định quan trọng. Chi phối hoạt động của doanh nghiệp bao gồm việc thông qua nghị quyết của Hội đồng thành viên trong Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và nghị quyết của đại hội cổ đông trong công ty cổ phần. Do vậy, đại biểu đề nghị, cơ quan soạn thảo nghiên cứu xác định tỷ lệ nắm giữ vốn góp hoặc tổng số vốn cổ phần có quyền biểu quyết của Nhà nước phù hợp hơn, bảo đảm việc chi phối của Nhà nước trong quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp, đồng thời hài hòa với quyền, lợi ích hợp pháp của thành viên có vốn góp cổ đông khác nhằm tạo thuận lợi trong việc thực hiện mục tiêu cổ phần hóa và thoái vốn tại các doanh nghiệp.

Tuy nhiên, trong dự thảo luật trình Quốc hội thông qua, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã đề nghị giữ như dự thảo luật. Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh cho biết, quy định về doanh nghiệp nhà nước như tại dự thảo luật nhằm thể chế hóa chủ trương về tỷ lệ cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước theo Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 3.6.2017 của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 Khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Theo đó, khái niệm doanh nghiệp nhà nước đã được sửa đổi theo nguyên tắc phân chia các loại doanh nghiệp có sở hữu nhà nước theo mức độ sở hữu khác nhau, mỗi loại hình doanh nghiệp có quy định về tổ chức quản trị phù hợp để nâng cao hiệu lực quản trị, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình, bảo đảm bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Ngoài ra, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đã chỉ đạo việc rà soát các luật có liên quan về doanh nghiệp nhà nước nhằm bảo đảm đồng bộ trong hệ thống pháp luật, có hiệu lực thi hành cùng Luật Doanh nghiệp (sửa đổi).

Liên quan đến cổ phần chi phối, Ủy ban Thường vụ Quốc hội báo cáo thêm, nội hàm “bảo đảm Nhà nước nắm giữ phần vốn góp hoặc cổ phần chi phối” tại khái niệm doanh nghiệp bám sát quan điểm chỉ đạo tại Nghị quyết số 12. Quy định này nhằm mục đích kiểm soát chặt chẽ, hiệu quả hơn việc sử dụng vốn nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước. Việc Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ đã bảo đảm quyền chi phối trực tiếp việc ra các quyết định thông thường (chỉ yêu cầu tỷ lệ trên 50%) và chi phối gián tiếp (phủ quyết) việc ra một số các quyết định khác (yêu cầu tỷ lệ 65%) của doanh nghiệp đó. Đồng thời, tỷ lệ này cũng phù hợp với các cam kết, thông lệ quốc tế.

Bảo vệ quyền của cổ đông thiểu số

Về quyền của cổ đông phổ thông, Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) quy định  giảm tỷ lệ sở hữu cổ phần phổ thông của cổ đông hoặc nhóm cổ đông từ 10% xuống còn 5%. Theo đó, cổ đông hoặc nhóm cổ đông phổ thông được thực hiện các quyền nêu tại các Điểm a, b, c và đ của Khoản 2, Điều 115 Luật mới. 

Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho biết, việc quy định cổ đông có tỷ lệ sở hữu cổ phần phổ thông thấp hơn được thực hiện các quyền quy định tại dự thảo Luật là nhằm bảo vệ quyền của cổ đông thiểu số và nhóm cổ đông trong doanh nghiệp. Đây là nội dung quan trọng quy định về khung quản trị doanh nghiệp. Việc quy định theo hướng trên cũng sẽ góp phần quan trọng trong thu hút các nguồn lực đầu tư vào doanh nghiệp. Tuy nhiên, để phù hợp và thống nhất với khái niệm cổ đông lớn quy định trong Luật Chứng khoán, mức tỷ lệ sở hữu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông để thực hiện một số quyền của cổ đông phổ thông cần bảo đảm hài hòa quyền, lợi ích hợp lý của các cổ đông thiểu số, nhóm cổ đông trong doanh nghiệp, tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tránh sự thay đổi quá lớn, có thể gây khó khăn trong quản trị, quản lý bí quyết công nghệ, kinh doanh của doanh nghiệp; phù hợp với thực trạng quản trị và bối cảnh của nước ta, tương thích với mức tỷ lệ phổ biến ở nhiều nước. 

Bên cạnh đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng nêu rõ, việc bãi bỏ quy định về thời gian sở hữu “ít nhất 6 tháng liên tục” nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của các cổ đông. Thực tế, nhiều trường hợp các nhà đầu tư đã mua lượng cổ phần rất lớn trong doanh nghiệp nhưng do chưa đáp ứng được quy định về thời gian sở hữu ít nhất 6 tháng liên tục, do đó đã không thực hiện được quyền và lợi ích chính đáng của mình.

Nhằm nâng cao yêu cầu về quản trị đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần có sở hữu của Nhà nước trên 50% vốn điều lệ, tăng mức độ kiểm soát tập quyền, chống xung đột lợi ích và bảo đảm tính minh bạch hóa trong hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, luật đã bổ sung quy định để mở rộng phạm vi đối tượng người có liên quan không được làm thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc hoặc tổng giám đốc. Cụ thể, thành viên độc lập Hội đồng quản trị phải có các tiêu chuẩn và điều kiện như không phải là người có vợ hoặc chồng, bố đẻ, bố nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột là cổ đông lớn của công ty; là người quản lý của công ty hoặc công ty con của công ty… Bên cạnh đó, Luật cũng bổ sung quy định công khai hóa thông tin của doanh nghiệp...

Nhật An