Kinh tế nước ta sẽ có thêm động lực tăng trưởng cho năm 2014 và tạo xu hướng tốt cho trung hạn 

Xem với cỡ chữ
Báo cáo một số ý kiến đánh giá bổ sung kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về KH phát triển KT - XH năm 2013; kết quả thực hiện những tháng đầu năm 2014 do CHỦ NHIỆM ỦY BAN KINH TẾ NGUYỄN VĂN GIÀU trình bày

Chuẩn bị cho Kỳ họp thứ Bảy, Quốc hội khóa XIII, ngày 29.4.2014, Ủy ban Kinh tế đã tổ chức phiên họp toàn thể thẩm tra Báo cáo đánh giá bổ sung kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2013; tình hình triển khai thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014. Trên cơ sở Báo cáo của Chính phủ, ý kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ý kiến đại biểu dự phiên họp toàn thể Ủy ban; qua tổng hợp ý kiến các cơ quan của Quốc hội, một số Đoàn ĐBQH, UBND tỉnh, thành phố, các chuyên gia kinh tế, các nhà khoa học và qua giám sát, khảo sát thực tế, Ủy ban Kinh tế thay mặt Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội xin báo cáo một số nội dung như sau:   

I. Đánh giá bổ sung kết quả thực hiện NQ của Quốc hội về KH phát triển KT - XH năm 2013

Tại Kỳ họp thứ Sáu, Chính phủ đã báo cáo kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2013, dự kiến có 11/15 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch; 2 chỉ tiêu đạt xấp xỉ kế hoạch là: tốc độ tăng trưởng GDP và tạo việc làm; 2 chỉ tiêu không đạt kế hoạch là tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước và tỷ lệ vốn đầu tư phát triển toàn xã hội. Đến nay, đánh giá lại kết quả thực hiện, có 11/15 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch, có 9 chỉ tiêu đạt cao hơn, 4 chỉ tiêu không đổi và 2 chỉ tiêu đạt thấp hơn; các cân đối vĩ mô tiếp tục được duy trì theo hướng ổn định hơn, cụ thể một số chỉ tiêu như sau:

- Mức tăng trưởng kinh tế năm 2013 là 5,42%, gần đạt kế hoạch 5,5% và cao hơn so với mức tăng 5,25% năm 2012. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 5,9%, cao hơn đáng kể so với mức tăng 4,8% của năm 2012. Tổng thu ngân sách nhà nước vượt 6 nghìn tỷ đồng so với dự toán, tăng 31,2 nghìn tỷ đồng so với số báo cáo Quốc hội.

- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tiếp tục xu hướng giảm dần kể từ tháng 5.2011, cả năm 2013 chỉ tăng 6,04%, là mức tăng thấp nhất 10 năm trở lại đây.

- Tạo việc làm mới được 1,543 triệu người, đạt xấp xỉ kế hoạch 1,6 triệu người, trong đó giải quyết việc làm trong nước tăng 1,04%, lao động làm việc tại nước ngoài tăng 10% so với năm 2012.

- Năm 2013 là năm thứ hai nước ta liên tiếp xuất siêu, quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa vượt kế hoạch đề ra. Xuất khẩu của khối doanh nghiệp trong nước có dấu hiệu khôi phục và có xu hướng tăng dần.

Đa số ý kiến cho rằng kết quả trên là do Chính phủ kiên trì điều hành các chính sách kinh tế theo mục tiêu đã đề ra trong Nghị quyết của Quốc hội là “tăng tính ổn định kinh tế vĩ mô, lạm phát thấp hơn, tăng trưởng cao hơn năm 2012”; các cân đối lớn bảo đảm, hầu hết các thị trường hoạt động khá ổn định, nhờ cán cân thương mại xuất siêu và nguồn kiều hối tăng mạnh, ngoại tệ thặng dư lớn đã gia tăng dự trữ ngoại hối, thị trường ngoại hối khá ổn định. Lãi suất huy động và cho vay giảm đáng kể so với cuối năm 2012. Đặc biệt với sự quan tâm chỉ đạo điều hành sát sao Chương trình xây dựng nông thôn mới đã tạo ra phong trào lan tỏa. Mặc dù tình hình kinh tế khó khăn nhưng an sinh xã hội, phúc lợi xã hội vẫn được ưu tiên và bảo đảm. Việc thực hiện các chính sách về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp được triển khai đồng bộ và có tiến bộ so với năm trước. Các hoạt động dạy nghề tiếp tục phát triển, đào tạo nghề cho lao động nông thôn được quan tâm.

Tuy nhiên, nhiều ý kiến vẫn cho rằng xu hướng ổn định vĩ mô của nền kinh tế chưa thực sự vững chắc. Tổng cầu nội địa còn yếu, tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2013 chỉ tăng 12,6%; thấp hơn nhiều so với con số trung bình khoảng 20% trong các năm trước năm 2011 và thấp hơn mức tăng 16% của năm 2012. Lượng hàng tồn kho bình quân tiếp tục xu hướng giảm nhẹ xuống còn 73,7% nhưng vẫn cao hơn ngưỡng thông thường các năm khoảng 65%. Số lượng doanh nghiệp phá sản, giải thể, ngừng hoạt động tiếp tục tăng cao so với năm 2012 (tăng 11,9%). Nợ xấu chưa được giải quyết cơ bản; nợ công ngắn hạn đến hạn và quy mô trả nợ ngày càng lớn.

Tăng trưởng của khu vực nông nghiệp giảm sút rõ rệt, năm 2013 chỉ còn tăng trưởng 2,67%. Các giải pháp và hệ thống tiêu thụ nông sản phẩm chưa thật sự căn cơ, chưa tạo sự yên tâm cho người dân.

Cán cân thương mại mặc dù cải thiện tích cực nhưng nhiều ý kiến cho rằng, xuất khẩu tăng trưởng chủ yếu từ khối doanh nghiệp FDI, tỷ lệ nhập khẩu về nguyên, vật liệu lớn để gia công sản xuất cho thấy sự phụ thuộc vào thị trường cung cấp nước ngoài. Giá và lượng xuất khẩu của nhiều mặt hàng nông sản phẩm chủ lực như gạo, cà phê, cao su, cá tra, cá ba sa sụt giảm, công nghiệp hỗ trợ trong nước phát triển quá chậm, chưa tận dụng và khai thác hết các cơ hội. 

Tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng tăng lên do sản xuất vẫn gặp khó khăn, đáng chú ý là trong số lao động thất nghiệp, số người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật chiếm tỷ lệ khá cao. Năng suất lao động và chất lượng lao động chậm cải thiện so với yêu cầu; tỷ lệ người lao động qua đào tạo có bằng cấp chứng chỉ còn thấp; tỷ lệ người lao động trong khu vực phi chính thức có xu hướng tăng lên; tỷ lệ giảm nghèo năm 2013 sụt giảm so với những năm trước; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt thấp hơn số báo cáo Quốc hội, chỉ đạt gần 70% so với số báo cáo 71,2%. Chất lượng chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân còn nhiều hạn chế.

Nhiều ý kiến cho rằng cần đánh giá thực chất hơn thực trạng của nền kinh tế qua diễn biến sản xuất và đời sống cũng như tính khách quan số liệu của các báo cáo, một số ý kiến băn khoăn về công tác dự báo, công tác thống kê và đánh giá tình hình tiếp tục bộc lộ hạn chế. Một số chỉ tiêu quan trọng như cán cân thương mại, thu ngân sách, tăng trưởng dư nợ tín dụng thông tin độ chính xác chưa cao, điều chỉnh nhiều lần và có khác biệt khá lớn giữa các lần báo cáo, công bố thông tin. Quá trình tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng dù được xác định là nhiệm vụ ưu tiên nhưng kết quả triển khai chưa có chuyển biến mạnh mẽ.

Tóm lại, mục tiêu tổng quát Quốc hội đề ra cho năm 2013 đã cơ bản đạt được, thể hiện sự nỗ lực rất lớn của Chính phủ và của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và người dân. Tuy nhiên, kinh tế trong nước vẫn phải đối mặt với những khó khăn, thách thức lớn, nhất là nguy cơ tiềm ẩn có thể gây mất ổn định trở lại. Đời sống một bộ phận người lao động, hộ nghèo, gia đình chính sách còn nhiều khó khăn, còn có chênh lệch lớn về mức sống và an sinh giữa các vùng, nhóm dân cư, đặc biệt là ở các tỉnh miền núi, vùng cao, biên giới. Trật tự, an toàn xã hội, môi trường vẫn còn nhiều vấn đề chậm được xử lý. Một số vụ án tham nhũng lớn gây bức xúc dư luận xã hội.

II. Triển khai thực hiện NQ của Quốc hội về KH phát triển KT - XH năm 2014

Những tháng đầu năm 2014, kinh tế thế giới đang có dấu hiệu phục hồi, cùng với xu hướng chuyển biến tích cực trong hầu hết các chỉ tiêu vĩ mô quan trọng trong năm 2013 của kinh tế trong nước, kinh tế nước ta sẽ có thêm động lực tăng trưởng cho năm 2014 và tạo xu hướng tốt cho trung hạn.  

Ủy ban Kinh tế cơ bản tán thành những đánh giá tại Báo cáo của Chính phủ. Kết quả 4 tháng là tích cực: tăng trưởng GDP quý I cao hơn cùng kỳ 2 năm trước; tỷ lệ lạm phát duy trì ở mức thấp; thu ngân sách đạt khá so với dự toán; mặt bằng lãi suất ổn định và có xu hướng giảm; thanh khoản của các ngân hàng thương mại tiếp tục dồi dào; tổng kim ngạch xuất khẩu tiếp tục đạt tốc độ tăng trưởng khá; cán cân thương mại xuất siêu; cán cân thanh toán tiếp tục thặng dư; tỷ giá, thị trường ngoại hối ổn định, dự trữ ngoại hối tăng cao. Tiến trình tái cơ cấu đầu tư tiếp tục đạt kết quả tích cực hơn. An sinh xã hội được bảo đảm.

Tuy nhiên, tổng cầu của nền kinh tế chưa cải thiện; tình hình doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh, người nông dân tiêu thụ một số nông sản phẩm chưa có lợi cao; một số vấn đề xã hội nảy sinh. Cụ thể là:

- Lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn vẫn tiếp tục phát sinh những dấu hiệu đáng lo ngại. Nếu tính theo giá so sánh, tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế này trong cùng kỳ 3 năm giảm từ 2,37% xuống 2,24% và 1,91%, trong đó có cả nguyên nhân thị trường tiêu thụ khó khăn, giá cả bấp bênh. Nhiều ý kiến cho rằng với thực trạng giá nông sản trong nước và thế giới liên tục giảm, trong khi các yếu tố đầu vào của các nông sản phẩm không giảm cùng chiều làm cho thu nhập thực tế và đời sống của dân cư khu vực nông thôn trong 2 năm vừa qua bị suy giảm và tác động tiêu cực đến sức mua chung của thị trường trong nước.

- Tính đến hết quý I năm 2014, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng cả về số lượng và số vốn đăng ký; số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng cao (48,9%), nhưng đồng thời số doanh nghiệp gặp khó khăn phải giải thể, ngừng, tạm ngừng hoạt động vẫn tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước. Theo báo cáo chỉ số kinh doanh Việt Nam năm 2013 do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam công bố, lòng tin giảm, sự lo ngại về thất bại khi kinh doanh là nguyên nhân khiến tỷ lệ đăng ký khởi sự kinh doanh rất thấp, cho thấy rất cần chính sách hỗ trợ kinh doanh kịp thời, mạnh mẽ hơn.

- Một số ý kiến lo ngại về việc phát hành trái phiếu Chính phủ quy mô lớn nhưng chủ yếu qua ngân hàng thương mại chiếm 86% tổng nguồn huy động trái phiếu Chính phủ sẽ ảnh hưởng đáng kể đến dòng đầu tư tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, tác động tiêu cực đến mặt bằng lãi suất và chi phí vay vốn của doanh nghiệp và một số ý kiến cho rằng đây là một trong những nguyên nhân khó tiếp cận vay vốn tín dụng. Tiến độ giải ngân gói hỗ trợ nhà ở xã hội có tác động thị trường bất động sản (30.000 tỷ đồng) đạt thấp, đến ngày 15.03.2014 mới giải ngân được 1.322 tỷ đồng tương đương khoảng 4,41% cho 3.023 khách hàng.

Bên cạnh đó, công tác bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập. Việc nghiên cứu, đề xuất một số chủ trương mới chưa chuẩn bị kỹ lưỡng, thiếu tính thuyết phục, gây tâm lý không tốt trong dư luận xã hội như việc đăng cai Đại hội thể thao châu Á lần thứ 18, Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, điều chỉnh tăng tổng mức đầu tư một số công trình lớn. Dịch bệnh sởi, bệnh tay chân miệng xuất hiện, diễn biến phức tạp ở nhiều tỉnh, thành trong khi đó công tác truyền thông, hướng dẫn và cách thức xử lý dịch bệnh còn lúng túng chưa đáp ứng sự mong đợi của người dân.

Về nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới, qua thảo luận đa số ý kiến tán thành với báo cáo của Chính phủ đã bám sát mục tiêu, 07 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trong Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014. Trước những diễn biến phức tạp, khó lường từ tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, đề nghị Chính phủ dự báo, đánh giá và có các giải pháp xử lý sát tình hình, cụ thể:

(1) Tập trung các giải pháp tăng tổng cầu ở mức hợp lý, bảo đảm mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng hợp lý, bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống nhân dân; tổ chức giải ngân kịp thời, chặt chẽ, hiệu quả các nguồn đầu tư của Nhà nước, cả ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Tạo điều kiện thuận lợi và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp nhất là tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước. Nhân rộng mô hình kết nối doanh nghiệp và các ngân hàng thương mại đang triển khai hiệu quả ở thành phố Hồ Chí Minh, thường xuyên tổ chức gặp gỡ, đối thoại giữa các tổ chức tín dụng và hiệp hội ngành, nghề, cộng đồng doanh nghiệp như một số tỉnh, thành phố tổ chức có kết quả trong thời gian gần đây.

Nhiều ý kiến đánh giá cao việc Chính phủ có nhiều giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững thông qua Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp và điều chỉnh, bổ sung nhiều chính sách mới như: liên kết, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn, đánh bắt thủy, hải sản, nuôi cá tra, cá ba sa... Song đa số ý kiến đề nghị cần tiếp tục rà soát và đề xuất có hệ thống chính sách đủ mạnh trình Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết về hệ thống chính sách này để vừa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, vừa bảo đảm tính ổn định và tạo yên tâm cho người nông dân, tránh tình trạng rủi ro về giá, khó khăn tiêu thụ hàng hóa và thực hiện chính sách hỗ trợ đặc biệt nông nghiệp, nông dân, nông thôn nhằm tăng tính cạnh tranh sản phẩm và phát triển sản xuất nông nghiệp một cách bền vững.

(2) Nhiều ý kiến đánh giá cao và cho rằng việc Chính phủ đã điều chỉnh quản lý đầu tư công vừa qua là sự thành công bước đầu, nhất là kiểm soát chặt chẽ từ chủ trương đầu tư đến xem xét phân bổ nguồn vốn từng dự án, công trình, từng địa phương... đã khắc phục cơ bản tình trạng đầu tư dàn trải, giảm lãng phí. Đồng thời, việc Quốc hội quyết định huy động thêm 170 nghìn tỷ đồng nguồn trái phiếu Chính phủ triển khai trong 3 năm (2014 - 2016) đã tác động đến tổng cầu nền kinh tế, bổ sung vốn cho nhiều dự án lớn đang triển khai dở dang như các dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây nguyên (Quốc lộ 14); một số dự án bệnh viện; Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Việc triển khai quyết liệt, đúng tiến độ chủ trương này sẽ phát huy hiệu quả rõ rệt những tháng cuối năm 2014 và 2015.

Tuy nhiên, xét về mặt quản lý và sử dụng tài sản công, của cải của đất nước một cách hiệu quả cao nhất, đề nghị Chính phủ chỉ đạo tập trung rà soát, tăng cường quản lý đầu tư công chặt chẽ hơn nữa, quyết tâm cắt bỏ những bất hợp lý và xử lý, quy trách nhiệm đến cùng đối với người đứng đầu khi vi phạm hoặc để xảy ra lãng phí trong từng dự án, từng công trình. Lưu ý rà soát một số dự án, công trình giao thông nếu thiết kế theo cách làm cũ có dấu hiệu lãng phí; việc đầu tư và chuyển loại đô thị quá nhanh của một số địa phương mà chính các địa phương này chưa cân đối được ngân sách, nhất là trong thời kỳ khó khăn bội chi ngân sách lớn, nợ công tăng nhanh thì việc chuyển loại đô thị, xây dựng trụ sở mới và một số công trình khác chưa thật sự cấp bách là chưa tạo sự đồng thuận dư luận xã hội.

Đề nghị Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp tổ chức giám sát diện rộng và có chủ trương điều chỉnh mạnh về vấn đề này. Bên cạnh đó, rà soát chi tiêu quản lý hành chính, chi hoạt động sự nghiệp, điều chỉnh ưu tiên chi cho con người và đồng thời có các biện pháp nâng cao ý thức trách nhiệm công vụ cán bộ, công chức.

(3) Tiếp tục xử lý hiệu quả hơn vấn đề hàng hóa tồn kho, nợ xấu doanh nghiệp, nợ xấu ngân hàng, nợ xây dựng cơ bản, nâng cao tính ổn định và lành mạnh các thị trường: tiền tệ, chứng khoán, bất động sản. Đẩy mạnh thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, phát triển nhanh công nghiệp hỗ trợ, có các giải pháp tăng giá trị trong nước đối với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Tăng cường hướng dẫn và quản lý chặt chẽ xuất nhập khẩu hàng hóa qua đường tiểu ngạch tại các cửa khẩu biên giới Việt Nam với các nước láng giềng bảo đảm thông suốt và an toàn tài sản của doanh nghiệp và người dân; ngăn chặn và xử lý theo pháp luật đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng kém vệ sinh an toàn thực phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe, cuộc sống người dân và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất trong nước.

(4) Tập trung xử lý những bất cập về giáo dục, y tế, văn hóa, nhất là việc chọn môn thi tốt nghiệp phổ thông, nâng cao chất lượng giáo dục theo Nghị quyết đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Nỗ lực phòng chống dịch bệnh, ưu tiên đầu tư để xử lý quá tải bệnh viện. Triển khai nhanh Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; có giải pháp phù hợp nâng cao năng suất lao động để khắc phục thực trạng bất hợp lý hiện nay giữa việc tốc độ tăng tiền lương cao hơn tốc độ tăng năng suất lao động trong khi tiền lương tối thiểu chưa được thực hiện theo quy định của pháp luật về lao động.

(5) Tập trung nguồn lực thực hiện chính sách người có công và bảo đảm các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội; hoàn thành chương trình nhà ở người có công theo Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ các địa bàn nghèo, chương trình đào tạo nguồn lực lao động nông thôn. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; tập trung chỉ đạo, phối hợp giải quyết đúng quy định pháp luật các vụ việc có liên quan đến an ninh, trật tự; ngăn chặn, xét xử kịp thời các phần tử tấn công người thi hành công vụ; tăng cường hơn nữa và bảo đảm an toàn giao thông, kiên quyết xử lý nghiêm các doanh nghiệp vận tải có xe chở quá tải trọng làm hư hại cơ sở hạ tầng giao thông.

(6) Triển khai thi hành Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, tập trung sửa đổi, bổ sung, ban hành mới và tổ chức thực hiện tốt các luật, tạo bước đột phá trong cải cách thể chế kinh tế tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

(7) Trước tình hình phức tạp do việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 tại vùng đặc quyền kinh tế ở vùng biển nước ta từ đầu tháng 5 vừa qua, đề nghị Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành, chính quyền các cấp triển khai chủ trương của Đảng qua ý kiến phát biểu của Tổng bí thư tại phiên bế mạc Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI. Đồng thời, chủ động có các giải pháp ứng phó với tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, từng ngành kinh tế, xuất nhập khẩu, các thị trường, cân đối ngân sách nhà nước, thu hút vốn đầu tư, tạo công ăn việc làm… Bảo đảm an ninh, trật tự và an toàn về tính mạng, tài sản của người dân, bảo đảm sản xuất kinh doanh bình thường của các doanh nghiệp và người dân. Tuyên truyền vận động nhân dân nêu cao tinh thần yêu nước, cảnh giác với luận điệu xấu, không manh động, bị kẻ xấu lôi kéo có những hành động vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng đến chính sách kêu gọi đầu tư và hình ảnh, uy tín của đất nước và nhân dân ta.

Trên đây là Báo cáo một số ý kiến đánh giá bổ sung kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2013, tình hình triển khai thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014. Xin kính trình Quốc hội xem xét, quyết định.