Dự án Luật Đầu tư (sửa đổi)

Không quản được sẽ cấm? 

Xem với cỡ chữ
Thảo luận về dự án Luật Đầu tư (sửa đổi) tại Kỳ họp thứ Tám, nhiều Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) đã có quan điểm khác nhau về việc có cấm đầu tư kinh doanh dịch vụ đòi nợ hay không. Vấn đề này tiếp tục có quan điểm khác nhau giữa cơ quan trình và cơ quan chủ trì thẩm tra trước khi trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến tại Phiên họp thứ 43 khai mạc sáng nay.

Tại Báo cáo về một số vấn đề lớn của dự án Luật Đầu tư (sửa đổi), Thường trực Ủy ban Kinh tế nêu rõ, dịch vụ điều tra là một ngành trong hệ thống các ngành kinh tế Việt Nam khác với điều tra hình sự là nhiệm vụ của cơ quan công an, tư pháp; theo quy định của Bộ luật Dân sự, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Do đó, cả người cung cấp thông tin và thám tử tư sử dụng thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của người khác để điều tra, theo dõi đều có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành; một số hoạt động (như thải hóa chất độc hại ra môi trường, xâm phạm bí mật cá nhân, buôn lậu, kinh doanh hàng giả...) không phải là ngành, nghề kinh doanh mà là hành vi vi phạm pháp luật đã được quy định xử lý theo pháp luật hành chính, hình sự, dân sự. Đồng thời, việc đề xuất cấm đầu tư kinh doanh đối với các hoạt động nêu trên chưa làm rõ mục tiêu, phạm vi, nội dung cấm và đánh giá đầy đủ về tác động của việc cấm đầu tư kinh doanh, do đó, chưa có đầy đủ cơ sở để cấm đầu tư kinh doanh.

Đóng góp không tương xứng với tác động tiêu cực

Tại Báo cáo việc tiếp thu, giải trình ý kiến các ĐBQH về dự án Luật, Chính phủ nêu rõ, việc cấm đầu tư kinh doanh dịch vụ này là cần thiết. Trước hết, quan hệ giữa bên cho vay và bên vay là quan hệ dân sự. Nhà nước đã có đầy đủ hệ thống pháp luật, cơ quan quản lý và thiết chế để bảo đảm thi hành và bảo vệ quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ dân sự theo nguyên tắc nhà nước pháp quyền hiện đại; các quan hệ xã hội phải được điều chỉnh bằng pháp luật. Hai là, thời gian qua, mặc dù đã có quy định về hoạt động kinh doanh dịch vụ đòi nợ nhưng nhiều doanh nghiệp, cá nhân lợi dụng để biến tướng thành các băng nhóm xã hội, tội phạm, nhằm cưỡng đoạt tài sản, gây áp lực đối với con nợ, cho vay nặng lãi, hoạt động tín dụng đen, gây mất trật tự, an toàn xã hội, dẫn tới nhiều hệ quả xấu đối với xã hội.

Báo cáo của Chính phủ cũng lưu ý, đóng góp của ngành, nghề này không tương xứng với tác động tiêu cực đối với xã hội cũng như nguồn lực Nhà nước phải bỏ ra để khắc phục và trấn áp, xử lý hậu quả tội phạm. Thực tế, tính đến ngày 27.2.2020, có 217 doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ đăng ký tại 29 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong đó tập trung tại TP Hồ Chí Minh (84 doanh nghiệp) và Hà Nội (62 doanh nghiệp).

Để bảo đảm quyền, lợi ích của các doanh nghiệp nêu trên, Chính phủ đề xuất, tại dự thảo Luật bổ sung quy định chuyển tiếp đối với các giao dịch, thỏa thuận cung cấp dịch vụ đòi nợ thực hiện trước ngày Luật có hiệu lực thi hành. Theo đó, các giao dịch này sẽ chấm dứt kể từ ngày Luật có hiệu lực; các bên tham gia giao dịch thực hiện thủ tục thanh lý hợp đồng theo quy định của pháp luật về dân sự và pháp luật có liên quan.

Tuy tiếp tục bảo lưu quan điểm cấm đầu tư kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê, song Báo cáo của Chính phủ nêu rõ, không cần thiết phải quy định cấm đầu tư kinh doanh dịch vụ điều tra, thám tử tư, vật liệu nổ khác (ngoài pháo nổ), các ngành thải hóa chất độc hại ra môi trường... như một số ý kiến đề xuất thời gian qua. Lý giải nguyên nhân của việc chưa cấm đầu tư kinh doanh các dịch vụ nêu trên, Báo cáo nêu rõ, hiện chưa làm rõ mục tiêu, phạm vi, nội dung cấm và chưa đánh giá đầy đủ về tác động của việc cấm đầu tư kinh doanh. Trong khi đó, một số hoạt động (như điều tra hình sự...) là nhiệm vụ của cơ quan công an, tư pháp;  một số hoạt động không phải là ngành, nghề kinh doanh mà là hành vi vi phạm pháp luật đã có quy định xử lý theo pháp luật hành chính, hình sự, dân sự (như thải hóa chất độc hại ra môi trường, xâm phạm bí mật cá nhân, buôn lậu, kinh doanh hàng giả…). Tuy nhiên, tiếp thu ý kiến của ĐBQH, Chính phủ đề nghị bổ sung quy định cấm đầu tư kinh doanh “bào thai” để phản ánh đầy đủ nội dung cấm của ngành, nghề “Mua, bán người, mô, bộ phận cơ thể người”.

Xuất phát từ nhu cầu thực tế

Đối với nội dung này tại dự án Luật, Thường trực Ủy ban Kinh tế hiện có ý kiến khác nhau. Một số ý kiến tán thành với đề xuất cấm đầu tư kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê và những lý do được Chính phủ đưa ra. Tuy nhiên, nhiều ý kiến nhận thấy, cần tiếp thu ý kiến của ĐBQH không quy định cấm “kinh doanh dịch vụ đòi nợ” tại Điểm h, Khoản 1, Điều 6, dự thảo Luật, mà quy định tại Danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện như Luật hiện hành. Các ý kiến cũng đề nghị bổ sung quy định điều kiện chặt chẽ đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ, bảo đảm quản lý nhà nước chặt chẽ đối với loại hình kinh doanh này.

Ủy viên Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thị Lệ Thủy nhận thấy, đây là ngành, nghề hình thành từ nhu cầu thực tiễn, ở đó khách hàng thường áp dụng hình thức tín chấp, thủ tục vay đơn giản, rủi ro cao. Khi người đi vay không thanh toán mà người cho vay vì nhiều lý do khác nhau lại không muốn sử dụng đến các công cụ hỗ trợ tư pháp để thu hồi tài sản và nếu có sử dụng thì hiệu quả thu hồi không bù đắp được thời gian và chi phí bỏ ra để nhờ các cơ quan pháp luật hỗ trợ, lúc này thuê đơn vị trung gian đòi thuê là giải pháp tối ưu.

Có phải tất cả vụ việc đòi nợ gây mất an ninh trật tự thời gian qua đều từ các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ hợp pháp, hay từ các băng nhóm cho vay nặng lãi biến tướng? Nêu câu hỏi này, bà Nguyễn Thị Lệ Thủy cho rằng, dù có cấm ngành, nghề kinh doanh đòi nợ cũng chưa chắc đã hạn chế được các hành vi đòi nợ biến tướng của các băng nhóm cho vay nặng lãi. Thậm chí có khi tình trạng mất an ninh trật tự còn tăng lên vì khi cấm các đơn vị cho vay sẽ hạn chế cho vay để bảo toàn vốn và có khả năng đẩy người vay tiếp cận với các nguồn cho vay nặng lãi nhiều hơn.

Bà Nguyễn Thị Lệ Thủy chỉ rõ, báo cáo tổng kết thực hiện Luật Đầu tư hiện hành cũng nêu hạn chế, đó là một số điều kiện đầu tư kinh doanh chưa được quy định đầy đủ, chưa có cơ chế kiểm soát, giám sát chặt chẽ. Như vậy, báo cáo tổng kết đã thừa nhận những hạn chế vừa qua xuất phát từ cơ chế, điều kiện và năng lực kiểm soát, đồng thời cũng không có đánh giá tác động về việc cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ. Từ những phân tích trên, bà Nguyễn Thị Lệ Thủy cho rằng, chưa có đủ cơ sở để cấm ngành, nghề kinh doanh dịch vụ đòi nợ, không thể vì “quản không nổi mà cấm”.

Đòi nợ thuê đang tồn tại để đáp ứng nhu cầu của xã hội, nên có thể quy định cấm song liệu điều luật cấm này có bảo đảm tính khả thi hay không? Nếu đã thấy trước sẽ không khả thi, không hiệu quả như mục tiêu và mong muốn, thì có nên dùng pháp luật để điều chỉnh hay chưa?

Lê Bình