Chọn nhân sự - Lựa nhân tài

Dùng người không kể thân - sơ 

Xem với cỡ chữ
Trong việc dùng người, tội nặng nhất là đem cái mũ của bậc nhân tài đội lên đầu kẻ bất tài, vô hạnh.

Nói như cổ nhân, bậc làm chúa không có người hiền tài giúp đỡ, thì cũng như kẻ mù lòa không người dẫn dắt. Kỵ nhau còn gì bằng nước với lửa, thế mà khéo dùng, đem lửa đun nước, thì được bao nhiêu là việc. Đó là sự khéo léo, cái kỳ tài trong việc dùng nhân tài. 

Nguyễn Huệ khi viết trong Chiếu cầu hiền rằng: "Nếu như che mất ánh sáng, giấu đi vẻ đẹp, có tài mà không được đời dùng, thì đó không phải là ý trời sinh ra người hiền vậy" thì bậc uyên bác số một đương thời, La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, dẫu sớm xa lánh thời cuộc, lui về quê ở ẩn trên núi, nghiền ngẫm lẽ thịnh suy trời đất, làm một hiền triết, nhưng không thể không cảm tấm lòng Nguyễn Huệ mời tới 3 lần, khiến ông phải xuống núi, dâng kế, rằng: "Nếu đánh gấp thì không quá mười ngày sẽ phá được. Nếu trì hoãn một chút thì khó mà phá được nó". Lời bàn hợp chủ ý của Nguyễn Huệ, càng khiến vị chủ soái tăng tốc hành quân và tác chiến quét sạch 29 vạn quân Thanh xâm lược. Tấm lòng Quang Trung đối đãi với La Sơn - người mà nhà vua Quang Trung - Nguyễn Huệ xem trọng là “bậc thầy để thờ” - thật đáng để muôn đời soi về nghệ thuật thu phục và đối đãi nhân tài, về đem vầng hào quang của cái mũ hiền tài cung kính trao một cách minh triết cho bậc kỳ tài trong thiên hạ! 

Vẫn là một thái độ chân thành yêu quý hiền tài, xem hiền tài như của báu trời sinh. Nếu hiền tài không được biết đến, không cho người ta biết đến thì thật phí hoài. Và cũng là có tội với đấng Tạo hóa đã có công sinh ra mình, vun đắp cho mình nữa! Chưa kể việc hiền tài mà không được sử dụng thì đâu còn là hiền tài. Hiền tài không phải là cái danh suông. Đọc lại “Chiếu cầu hiền” của Hoàng đế Quang Trung: "Trước đây thời thế suy vi, Trung châu gặp nhiều biến cố, kẻ sĩ phải ở ẩn trong ngòi khe, trốn tránh việc đời, những bậc tinh anh trong triều đường phải kiêng dè không dám lên tiếng. Cũng có kẻ gõ mõ canh cửa, cũng có kẻ ra biển vào sông, chết đuối trên cạn mà không biết, dường như muốn lẩn tránh suốt đời", thì lỗi ở chính hiền tài.

Nhưng, trong trọng dụng nhân tài, gặp người hiền mà không thể cất nhắc lên được hay cất nhắc được mà không kính cẩn đã là khinh mạn họ; gặp người không thiện mà không thể đuổi đi được hay đuổi đi mà không đuổi xa, ấy chính là lỗi của kẻ dùng người. Do thế, nếu khuôn phép đạo đức và hình phạt không đặt ra và nghiêm dụng thì rối loạn, mà rối loạn thì họa và loạn sẽ cùng đến. Bệnh tiểu kỷ, bệnh tham nhũng quyền lực, công tư bất minh đã tạo cơ hội cho không ít kẻ bất tài, xu nịnh, con ông cháu cha đắc ý còn người tài năng, trung thực thì khốn đốn, bất bình. Khi đã không thành ý, lại kém cỏi, thậm chí vì cái bụng dạ đen tối của mình mà đem cái mũ của bậc hiền tài chụp bừa lên đầu của kẻ tiểu nhân, bất tài thì không khác gì rước họa vào nhà, nối giáo cho giặc nội xâm! Đó là tội đáng phải bị lưu, đồ. Nhân tài rũ áo khoanh tay!

Trong việc dùng nhân tài, không cất nhắc người căn cứ vào lời nói, không bỏ lời nói căn cứ vào người. Nếu kỳ thị lời “trung ngôn nghịch nhĩ” thì dễ dàng bỏ mất người ngay, nếu tin dùng kẻ biết nói lời xiểm nịnh, ton hót, cơ hội, lại dốt nát và tham lam, thì họa không ập ngay tới trước mắt mới lạ. Phải trái không rõ ràng, tiết nghĩa không giảng xét, thiên hạ sở dĩ loạn là tại thế. Thời nhà Trần cho chúng ta một bài học lớn về điều này. Khi vua Thái Tông định cho An Quốc là anh của Thái sư Trần Thủ Độ làm tể tướng thì vị Thái sư đã biện lý một cách công tâm: “An Quốc là anh thần, nếu cho là giỏi hơn thần thì thần xin trí sĩ, nếu cho thần giỏi hơn An Quốc thì không thể cử An Quốc. Nếu anh em đều làm tể tướng cả thì việc triều đình sẽ ra làm sao?”. Cái mũ của bậc hiền tài quả đã trao đúng cho người tài cần trao! Quả là mẫu mực!

Nguy ngập hơn, những kẻ đức nhỏ mà xếp cho địa vị cao; trí cạn mà tham lam lại cắt đặt vào nơi màn trướng quân cơ, để mưu việc lớn, thì việc chưa tàn canh, họa lớn quốc gia rình ngay trước cửa. Thượng hoàng Thánh Tông đã can ngăn vua Nhân Tông không giao cho Quốc Phụ (vốn làm Nội thư chánh chưởng, là cận thần của nhà vua) chức Hành khiển: “Nếu lấy ngôi thứ mà bàn, thì Quốc Phụ được rồi, chỉ hiềm hắn nghiện rượu thôi”. Từ việc chăm lo giáo dục, khoa cử, đến đường lối cầu hiền rộng mở, nhà Trần luôn huy động tối đa nhân tài trong xã hội. Với cách thức dùng người đúng khả năng, chọn người thực tài, nhất là thái độ chí công vô tư trong tuyển dụng, nhà Trần, ở giai đoạn cường thịnh, đã không để cho kẻ bất tài, gian nịnh có cơ hội lộng hành. 

Vì trọng nhân tài nên nhà Trần dùng người không kể thân - sơ. Vua Anh Tông đối với người tôn thất như Bảo Hưng thân yêu hết mực, nhưng không trao cho việc chính sự, vì không có tài. Nguyễn Sĩ Cố và Chu Bộ, vốn là cận thần của thái tử Mạnh (sau này là vua Minh Tông), lại phục vụ Thượng hoàng Anh Tông khó nhọc lâu ngày, nhưng vì “tài không thể dùng được, nên đặt họ vào chức nhàn tản và đều cho bổng lộc tước trật ưu hậu mà không trao cho thực quyền”. Việc tôn trọng thực tài, công tư phân minh trong dùng người của nhà Trần đã khiến cho những người tài lúc bấy giờ không phải chịu bất công, ấm ức. Nhưng, đến giai đoạn mạt Trần, do vua quan ăn chơi sa đọa, trọng dụng kẻ bất tài, gian nịnh, đã trù dập tài năng, khiến cho không ít người tài người thực tài trở nên bất đắc chí, thành những người lạc lõng giữa thời loạn, như: Chu Văn An, Trần Nguyên Đán, Đỗ Lễ, Trương Đỗ, Nguyễn Bẩm... Nhân tài cự tuyệt, ngoảnh lưng và cơ đồ đổ vỡ!

Dưới triều Nguyễn, năm 1824, Hiệp biện Đại học sĩ lĩnh Thượng thư Bộ Hình kiêm quản Đô sát viện là Vũ Xuân Cẩn khi được phái đi phát chẩn ở Nghệ An ông đã chủ động xét người được phát theo tiêu chuẩn người nào khỏe mạnh thì cho ít, trẻ con ốm yếu thì phát nhiều và khi về triều ông xin chịu tội “vi chế”, vua Minh Mạng bảo: “Nếu có lợi cho dân thì tự ý làm cũng được, có tội gì?”. Ông cũng là người không ham danh lợi, khi tuổi già sức yếu sợ không cáng được trọng trách triều đình giao phó nên ông đã hai lần xin triều đình cho hưu trí, nhưng không toại nguyện. Năm 1841, khi đã 70 tuổi, nhưng ông vẫn được thăng Thự Đông các đại học sĩ. Tự xét thấy tuổi cao, sức yếu, một lần nữa, ông xin hồi hưu nhưng được không chuẩn tấu. Vua Thiệu Trị nói: “Nước có bề tôi già, là điều hay của thịnh triều...”. Năm ông 80 tuổi, vua Tự Đức làm 2 bài thơ tặng với ý ngợi ca, tỏ niềm tâm đắc với một vị Đại thần “Túc đức nguyên lão”, và sau này được liệt thờ vào miếu Hiền lương. Quả là không ngoa khi người đời gọi ông là người tam đạt: Tước cao - Đức lớn - Sống lâu. Người hiền tài xứng đáng đội chiếc mũ của bậc hiền tài! 

Nhưng tệ hại nhất là những kẻ sĩ xu thời, vụ lợi, không nghĩ đến nước, không biết đến dân.

Trọng dụng nhân tài mà vì lợi lộc, lại mặc cả đổi chác, sa vào bán tước mua quan, thì quốc gia tự chuốc cái loạn vô hồi! Người giữ trọng trách cắt đặt không tự diệt mới là chuyện lạ! Nhân tài đoạn tuyệt và bỏ đi! Thử hỏi như thế thì chính thể sao mà không suy tàn, xã tắc sao mà không loạn lạc cho được? Điều mệnh hệ ấy, chẳng cần phán xét, lịch sử đã cho thấy những quả báo và ứng nghiệm rồi!   

Khi ấy, người được quyền trọng dụng hiền tài dẫu nghìn lần hối hận, cũng không sao còn kịp nữa!

TS NHị LÊ - Nguyên Phó Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản