CÔNG NGHỆ - MÔI TRƯỜNG
Cập nhật 14:09 | 28/02/2020 (GMT+7)
.
Tọa đàm “Phát triển bền vững tài nguyên nước – vai trò của các tổ chức xã hội”

Bảo vệ tài nguyên nước chưa đạt kỳ vọng

16:22 | 27/07/2019
Nước ta có tổng lượng nước là 830 tỷ m3, với dân số trên 90 triệu người, với 9000 m3/người/năm so với thế giới là cao. Tuy nhiên, nước nội sinh chỉ có trên 3000m3/ người, với 2/3 của 830 tỷ m3 nước đi từ các quốc gia thượng nguồn Trung Quốc, Myanma, Thái Lan, Lào… Vì vậy chúng ta chỉ còn 37% lượng nước cho đầu người, tương đối thấp.


Ảnh: Duy Thông

Tại sao thời gian gần đây, vấn đề bảo vệ nguồn nước, trong đó có giải pháp chống ô nhiễm nguồn nước trở thành vấn đề nóng? Khi nghiên cứu các vùng, trong đó riêng thủ đô Hà Nội có đến 6 con sông đang trong quá trình ô nhiễm, trong đó có sông Nhuệ, Sông Đáy và sông Tô Lịch ô nhiễm rất nặng nề. Nguyên nhân gây ô nhiễm chính là do con người xả thải không qua xử lý và nguồn nước từ các khu công nghiệp, các làng nghề xả thẳng ra các con sông. Trong nông nghiệp, việc sử dụng phân bón thuốc trừ sâu trong nông nghiệp cũng đang gặp nhiều vấn đề. 

Bên cạnh đó, phát triển thủy điện không bền vững, hầu hết các địa phương có sông đều xây dựng thêm rất nhiều nhà máy thủy điện nhỏ và vừa, dòng chảy bị chặn đứng khiến cuộc sống của người dân bị ảnh hưởng nặng nề. Đơn cử như sông Mã có 100km có đến tân 5 nhà máy thủy điện, nguồn cung cấp nước bị tác động rất lớn.   

Tuy nhiên, việc thực thi giám sát từ đầu: từ việc lập quy hoạch, sử dụng nước trên các hệ thống sông không được thực hiện đầy đủ. Việc xả thải xuống các dòng sông do ý thức của một bộ phận người dân trong việc bảo vệ môi trường chưa tốt. Chúng ta có hệ thống luật pháp rất tốt, không kém các nước phát triển, từ luật cho đến các Nghị định, Thông tư nhưng câu chuyện xử lý vi phạm pháp luật trong vấn đề bảo vệ tài nguyên nước chưa đạt như kỳ vọng. 

Lực lượng khoa học, lực lượng của các tổ chức xã hội hiện nay là tri thức được đào tạo bài bản. Đối với tổ chức xã hội từ khi tham gia đã có những bà  học rất lớn, Mạng lưới sông ngòi Việt Nam từ năm 2011 - 2012 đã làm việc với Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, được đi giám sát cùng với Ủy ban, sau đó trình Quốc hội ban hành Nghị quyết 62/2013/QH13 về tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác công trình thủy điện. Trong đó không thể không nhắc tới những đóng góp của các tổ chức xã hội, được Chính phủ, Quốc hội lắng nghe. Việc tham gia của các hội, liên hiệp hội đã có đóng góp rất tốt, tăng cường vai trò của các tổ chức xã hội. 

Thời gian qua, vai trò của các tổ chức xã hội cũng đã được luật hóa. Đơn cử như Luật Tài nguyên nước, khi phát triển các công trình về nguồn nước đều phải tham vấn các cộng đồng. Luật hóa được thể hiện khi các cơ quan đơn vị, bộ ngành liên quan khuyến khích tạo điều kiện cho các tổ chức xã hội tham gia hỗ trợ, có nhiều đóng góp tích cực mang tính xây dựng, phản biện xã hội. Bên cạnh đó, còn có nguồn lực từ các tổ chức phi chính phủ quốc tế. Nguồn lực từ các chương trình, dự án đã có sự tham gia phản biện về mặt khoa học, kinh tế xã hội cần sử dụng nguồn lực của các Hội, hiệp hội.  

TS.Đào Trọng Tứ, Phó Chủ tịch Hội tưới tiêu Việt Nam, Trưởng ban Điều hành Mạng lưới sông ngòi Việt Nam
Xem tin theo ngày:
KHOA HỌC
08:12 21/10/2019
Cùng với xu hướng chuyển dịch năng lượng tái tạo trên thế giới và những ưu thế vốn của mình, thời gian qua, hàng loạt dự án năng lượng tái tạo đã được đầu tư nhanh chóng vào Việt Nam, cung cấp lượng điện năng không nhỏ cho hệ thống điện quốc gia. Tuy nhiên, thực tế lại phát sinh vướng mắc khi lưới điện tiếp nhận nguồn công suất trên không thể theo kịp tốc độ phát triển quá nhanh của những dự án này.
Quay trở lại đầu trang