CÔNG NGHỆ - MÔI TRƯỜNG
Cập nhật 23:01 | 06/04/2020 (GMT+7)
.
Sản phẩm nông nghiệp được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ:

Những vướng mắc cần tháo gỡ

17:53 | 26/12/2018
Đánh giá về những khó khan, vướng mắc trong việc kiểm soát nguồn gốc và chất lượng của sản phẩm nông nghiệp được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, ông PHAN NGÂN SƠN, Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam cho rằng, chính sách, thể chế trong kiểm soát sản phẩm nông nghiệp được bảo hộ sở hữu trí tuệ, cụ thể là chỉ dẫn địa lý chưa có mẫu chung. Trong khi, chủ thể của hoạt động kiểm soát vẫn là Nhà nước mà chưa có sự tham gia của cơ quan chứng nhận độc lập. Đồng thời, hoạt động kiểm soát đa phần mới ở trên văn bản, việc áp dụng vào thực tế còn hạn chế…

 Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam Phan Ngân Sơn

- Thưa Ông, việc kiểm soát nguồn gốc và chất lượng của sản phẩm nông nghiệp đã được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có ý nghĩa như thế nào trong sản xuất và kinh doanh hiện nay?

Kiểm soát nguồn gốc, chất lượng sản phẩm nông nghiệp được bảo hộ sở hữu trí tuệ nhằm bảo đảm đưa ra thị trường sản phẩm chất lượng cao, được kiểm soát chặt chẽ, đáp ứng yêu cầu chính đáng, tạo dựng lòng tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm nông nghiệp an toàn; Ngăn chặn hành vi sử dụng sai lệch, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về dấu hiệu chỉ dẫn nguồn gốc đối với sản phẩm nông nghiệp; Củng cố và phát triển danh tiếng, nâng cao giá trị sản phẩm; Tạo ra lợi thế kinh doanh giữa sản phẩm được bảo hộ sở hữu trí tuệ và các sản phẩm cùng loại không được bảo hộ.

Ông PHAN NGÂN SƠN: Theo báo cáo “Bước tiến mới: Giảm nghèo và thịnh vượng chung ở Việt Nam” của Ngân hàng Thế giới - Báo cáo cập nhật năm 2018- thì khoảng 70% dân số Việt Nam hiện có thể xếp vào nhóm an toàn về kinh tế, bao gồm 13% hiện đang là một bộ phận của tầng lớp trung lưu toàn cầu. Đó là kết quả của việc dịch chuyển kinh tế tích cực suốt giai đoạn từ 2010 cho đến nay.

Cùng với sự phát triển của quá trình đô thị hóa và sự gia tăng của tầng lớp trung lưu, người tiêu dùng ngày càng đòi hỏi, yêu cầu khắt khe hơn đối với các sản phẩm, hàng hóa, đặc biệt là những sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sức khoẻ như mặt hàng nông sản, thực phẩm. Sự quan tâm của người tiêu dùng không chỉ giới hạn ở mẫu mã, chất lượng, mà còn bao gồm cả các thông tin liên quan đến nguồn gốc địa lý, quá trình tạo ra sản phẩm và đưa sản phẩm đến khách hàng cuối cùng.

Theo đó, bảo hộ sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm và truy xuất nguồn gốc hàng hoá dần trở thành tiêu chuẩn quan trọng trong sản xuất, kinh doanh, mang lại lợi ích kinh tế cho người sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội.

- Vậy đến nay việc kiểm soát nguồn gốc và chất lượng của sản phẩm nông nghiệp được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã được triển khai như thế nào, thưa Ông?

Ông PHAN NGÂN SƠN: Tính đến nay, Cục Sở hữu trí tuệ đã bảo hộ cho khoảng 900 đối tượng có dấu hiệu chỉ dẫn nguồn gốc cho các sản phẩm nông nghiệp, trong đó có 63 chỉ dẫn địa lý, gần 200 nhãn hiệu chứng nhận và hơn 600 nhãn hiệu tập thể.

Việc bảo hộ và khai thác hiệu quả giá trị tài sản trí tuệ cho các sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là các sản phẩm nông nghiệp chủ lực, đặc thù đã và đang góp phần tích cực thúc đẩy phát triển nền kinh tế, nâng cao năng lực, vị thế của các địa phương và doanh nghiệp, giúp tạo ra các sản phẩm có giá trị thương hiệu lớn, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường trong và ngoài nước.


Cục Sở hữu trí tuệ đã bảo hộ cho gần 900 đối tượng có dấu hiệu chỉ dẫn nguồn gốc các sản phẩm nông nghiệp - (Ảnh minh họa nguồn ITN)

Để phục vụ việc bảo hộ và quản lý sản phẩm được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, hầu hết các chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận hoặc cơ quan quản lý nhà nước đều đã tiến hành: Ban hành các văn bản quy định liên quan đến tiêu chí về nguồn gốc, chất lượng sản phẩm và quy trình đánh giá, quản lý nguồn gốc, chất lượng sản phẩm. Cùng với đó là đào tạo, tập huấn cho doanh nghiệp, cộng đồng trong khu vực địa lý có sản phẩm được bảo hộ về quản lý, kiểm soát nguồn gốc và chất lượng sản phẩm. Đồng thời tiến hành hỗ trợ cộng đồng, doanh nghiệp áp dụng các công cụ, giải pháp hỗ trợ kiểm soát nguồn gốc và chất lượng sản phẩm nông nghiệp; vấn đề xác thực và đầy đủ thông tin của tem truy xuất đang xuất hiện trên thị trường.

Có thể thấy, so với các sản phẩm nông nghiệp khác, các sản phẩm nông nghiệp được bảo hộ sở hữu trí tuệ đã được quan tâm, triển khai công tác kiểm soát, chất lượng, tuy nhiên, kết quả thực tế vẫn còn hạn chế.

- Cụ thể những khó khan, vướng mắc để thực hiện tốt việc kiểm soát nguồn gốc và chất lượng của sản phẩm nông nghiệp đã được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là gì, thưa Ông?

Ông PHAN NGÂN SƠN: Chính sách, thể chế trong kiểm soát sản phẩm nông nghiệp được bảo hộ sở hữu trí tuệ, cụ thể là chỉ dẫn địa lý chưa có mẫu chung. Trong khi, mô hình kiểm soát hiện nay chưa rõ ràng: ai kiểm soát, kiểm soát gì, kiểm soát như thế nào. Bên cạnh đó, chủ thể của hoạt động kiểm soát vẫn là Nhà nước - là cơ quan quản lý chỉ dẫn địa lý hoặc chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể- mà chưa có sự tham gia của cơ quan chứng nhận độc lập. Đồng thời, hoạt động kiểm soát đa phần mới ở trên văn bản, việc áp dụng vào thực tế còn hạn chế.

Cùng với những khó khăn trên thì hiện chưa có sự kết nối giữa kiểm soát sản phẩm được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ với hoạt động quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc sản phẩm nông nghiệp.

Sản xuất nông nghiệp vẫn còn mang tính chất nhỏ lẻ, năng lực hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp còn hạn chế, sự liên kết giữa chính quyền, người dân và doanh nghiệp chưa chặt chẽ dẫn đến tình trạng các sản phẩm nông sản phát triển một cách tự phát, không có sự quản lý chặt chẽ của các ban, ngành, các cấp làm ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm nông sản.

Trình độ cán bộ quản lý hợp tác xã, doanh nghiệp cũng như người nông dân còn nhiều hạn chế, chưa đồng đều, chưa làm chủ công nghệ thông tin hiện đại, thiếu trang thiết bị quản lý, triển khai.

- Xin cám ơn Ông!

Bảo Ngân thực hiện
Xem tin theo ngày:
KHOA HỌC
08:12 21/10/2019
Cùng với xu hướng chuyển dịch năng lượng tái tạo trên thế giới và những ưu thế vốn của mình, thời gian qua, hàng loạt dự án năng lượng tái tạo đã được đầu tư nhanh chóng vào Việt Nam, cung cấp lượng điện năng không nhỏ cho hệ thống điện quốc gia. Tuy nhiên, thực tế lại phát sinh vướng mắc khi lưới điện tiếp nhận nguồn công suất trên không thể theo kịp tốc độ phát triển quá nhanh của những dự án này.
Quay trở lại đầu trang