CÔNG NGHỆ - MÔI TRƯỜNG
Cập nhật 19:24 | 11/12/2018 (GMT+7)
.

Công bằng trong khai thác, sử dụng

08:24 | 05/12/2018
Tài nguyên nước tuy là nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo nhưng lại không phải là vô hạn trong khi nhu cầu sử dụng ngày càng lớn. Chính vì vậy, thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước được coi là công cụ quan trọng trong khuyến khích tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ được nguồn nước khai thác, hướng tới sự công bằng trong sử dụng nguồn nước.

Tài sản quốc gia

Nhằm bảo đảm sự công bằng và phù hợp với việc quản lý tài nguyên nước, như một loại tài sản của Nhà nước, Luật Tài nguyên nước năm 2013 đã quy định thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước. Nghị định số 82/2017/NĐ-CP có hiệu lực ngày 1.9.2017 quy định mức thu, phương pháp tính, phương thức thu, chế độ quản lý, sử dụng tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước đã cụ thể hóa vấn đề này. Với quan điểm tài nguyên nước là tài sản của Nhà nước, thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, người khai thác, sử dụng tài sản của Nhà nước cần phải nộp tiền để bảo đảm công bằng trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước và nâng cao ý thức sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn nước.


Từ 1.9.2017, hoạt động khai thác nước dùng cho sản xuất thủy điện phải nộp tiền để cấp quyền khai thác tài nguyên nước

Nhiều chuyên gia nhận định, việc thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước sẽ góp phần nâng cao ý thức và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong khai thác, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả và bảo đảm công bằng trong việc sử dụng tài sản của Nhà nước. Bên cạnh đó, đẩy mạnh thực thi các chính sách ưu đãi đối với các hoạt động sử dụng nước tiết kiệm, trong đó bao gồm việc ưu đãi đối với việc đầu tư chiều sâu để tái sử dụng nước thải, sử dụng nước tuần hoàn. Chế độ thu tiền khi Nhà nước trao quyền sử dụng tài sản cho tổ chức, cá nhân tương tự như khoáng sản, đất đai.

Theo quy định của Nghị định số 82/2017/NĐ-CP, cơ quan nào cấp giấy phép khai thác sử dụng nước thì cơ quan đó sẽ phê duyệt tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước cho công trình đó và thông báo cho cơ quan thuế ở địa phương để tổ chức việc thu tiền. Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, sau hơn một năm triển khai thi hành Nghị định, Bộ đã phê duyệt tiền cấp quyền khai thác cho 265 công trình khai thác sử dụng tài nguyên nước với hơn 6.500 tỷ đồng. Các địa phương cũng đã phê duyệt tiền cấp quyền khai thác cho 621 công trình thác, với tổng số tiền khoảng 83 tỷ đồng.

Mức thu chỉ từ 1 - 2%

Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường Hoàng Văn Bảy cho biết, hiện một số tỉnh, thành phố đã tiến hành triển khai thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước như Sơn La, Ninh Thuận, Hòa Bình, Hà Nội, Hải Phòng, Bình Dương, Đà Nẵng... và bước đầu đã đạt được một số kết quả tích cực. Ngoài ra, Cục Quản lý tài nguyên nước cũng có thông báo tới gần 500 chủ giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước đã được Bộ cấp phép thuộc đối tượng phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước để hướng dẫn và đôn đốc việc tính toán, xác định tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước; tiếp nhận được 38 hồ sơ tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước của các tổ chức, cá nhân trên cả nước về khai thác, sử dụng nước dưới đất, nước mặt.

Quản lý nhà nước đối với tài nguyên nước dần đi vào nền nếp đã góp phần khắc phục tình trạng lãng phí trong sử dụng tài nguyên nước, hình thành ý thức coi tài nguyên nước là hàng hóa, người sử dụng phải trả phí, tài nguyên nước là nguồn lực để phát triển. Tuy nhiên, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước rất thấp chỉ từ 1 - 2% (Điều 5 Nghị định số 82/2017/NĐ-CP) và chỉ thu đối với một số mục đích sử dụng nước có lợi thế hơn như kinh doanh, dịch vụ, sản xuất phi nông nghiệp… (Điều 3 Nghị định số 82/2017/NĐ-CP). Mức thu này chưa thực sự tương xứng với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội.

Mặt khác, dù chất lượng nguồn nước là một trong những căn cứ quan trọng để tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, nhưng các chỉ số để xác định chất lượng nguồn nước trong hồ sơ đề nghị cấp phép và trong Nghị định số 82/2017/NĐ-CP lại không thống nhất. Đối với các hệ số chất lượng nguồn nước, trong hồ sơ đề nghị cấp phép khai thác tài nguyên nước chỉ yêu cầu thực hiện phân tích kết quả chất lượng nguồn nước theo mục đích sử dụng.

Quản lý dựa trên tiếp cận thị trường

Viện trưởng Viện chiến lược chính sách tài nguyên và môi trường Nguyễn Thế Chinh cho rằng, quản lý tài nguyên nước dựa trên cơ sở tiếp cận thị trường cần phải tuân thủ những nguyên tắc của thị trường để quản lý. Một trong những nguyên tắc cơ bản là có cầu thì phải có cung, như vậy nếu xem xét khía cạnh đầu vào nước là tài nguyên thì nhu cầu đầu vào tài nguyên nước là hệ thống kinh tế và tiêu dùng nước của xã hội. Còn đối với nhà quản lý, yêu cầu nước thải ra môi trường phải bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng nước sạch buộc các đối tượng sử dụng nước phải xử lý hoặc giảm lượng nước thải ra môi trường. Công cụ điều tiết giữa cung và cầu nước trên thị trường phải sử dụng công cụ thị trường.

Cũng theo Viện trưởng Nguyễn Thế Chinh, hiện số phí thu được từ các tổ chức, cá nhân xin cấp phép đối với quy mô thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đạt khoảng 2,96 tỷ đồng, trong khi hoạt động sản xuất chiếm trên 41% GDP của quốc gia. Số thuế thu được từ hoạt động khai thác nước cho thủy điện khoảng 2.900 tỷ đồng chiếm khoảng 0,7% GDP quốc gia. Trong khi đó, theo thống kê sơ bộ, hiện tại, cả nước hàng ngày đang khai thác hàng triệu m3 nước sử dụng cho sản xuất và sinh hoạt, nhưng lại chưa thu được thuế. Thực tế, phần lớn nguồn nước các ngành kinh tế đang sử dụng gần như miễn phí. Đóng góp cho ngân sách không đáng kể.

Do đó, theo nhiều chuyên gia, để quản lý tài nguyên nước một cách hiệu quả, công bằng và bền vững cần dựa trên tiếp cận thị trường, căn cứ vào những quy luật thị trường điều chỉnh hành vi của bên sử dụng nước.

Anh Thơ
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang