CÔNG NGHỆ - MÔI TRƯỜNG
Cập nhật 22:35 | 14/11/2019 (GMT+7)
.

Tọa đàm “Hiện đại hóa ngành khí tượng thủy văn – nhìn từ công tác dự báo”

20:31 | 30/11/2018
Nếu nhìn nhận một cách khách quan, chất lượng dự báo của nước ta đã từng bước nâng lên và dần tiệm cận với các nước phát triển. Tuy nhiên, hiện hệ thống quan trắc của Việt Nam còn mỏng, mật độ chỉ bằng 20 - 30% so với các nước phát triển, đòi hỏi ngành khí tượng thủy văn (KTTV) phải đi trước một bước, đầu tư thỏa đáng cho công nghệ để cung cấp kịp thời, chính xác thông tin, đưa ra những dự báo, cảnh báo sát với thực tiễn nhất trong bối cảnh các hiện tượng thời tiết cực đoan, biến đổi khí hậu ngày càng ảnh hưởng rõ rệt.

Với chủ đề “Hiện đại hóa ngành khí tượng thủy văn – nhìn từ công tác dự báo”, chương trình Tọa đàm trực tuyến do Trung tâm truyền thông tài nguyên và môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với báo Đại biểu nhân dân tổ chức nhằm trao đổi, thu nhận ý kiến ĐBQH, chuyên gia, nhà quản lý, cử tri về vai trò của ngành KTTV trong đời sống xã hội; khẳng định ngành KTTV cần phải đầu tư hơn nữa về công nghệ quan trắc, dự báo nhằm giảm tối đa thiệt hại do thiên tai gây ra; đặc biệt, tìm các giải pháp chiến lược để nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, thu hẹp khoảng cách với các nước trong khu vực và trên thế giới.


Tọa đàm “Hiện đại hóa ngành khí tượng thủy văn – nhìn từ công tác dự báo”

Các khách mời tham gia Tọa đàm gồm:

- Bà Trần Thị Quốc Khánh, Ủy viên thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội;

- Ông Bùi Thanh Tùng, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH TP Hải Phòng, Ủy viên Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội;

- Ông Trần Hồng Thái, Phó Tổng cục trưởng, Phụ trách Tổng cục KTTV;

- PGS. TS Nguyễn Văn Thắng, Viện trưởng Viện khoa học KTTV và Biến đổi khí hậu;

- GS Phan Văn Tân, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Trân trọng kính mời bạn đọc theo dõi nội dung Tọa đàm tại đây:

PGS.TS  Đỗ Chí Nghĩa- Tổng biên tập Báo Đại biểu nhân dân phát biểu khai mạc Tọa đàm:


PGS.TS Đỗ Chí Nghĩa, Tổng biên tập báo Đại biểu nhân dân phát biểu khai mạc Tọa đàm.

Kính thưa các vị đại biểu, các vị khách quý!

Hôm nay, báo Đại biểu nhân dân rất vinh dự tổ chức tọa đàm trực tuyến “Hiện đại hóa ngành khí tượng thủy văn – nhìn từ công tác dự báo”.

Biến đổi của khí hậu toàn cầu những năm gần đây làm cho tình hình thời tiết ở nước ta có những biến động khó lường và ngành KTTV của chúng ta đã hết sức nỗ lực, cố gắng. Và KTTV không phải điều gì xa xôi mà có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống đất nước, kinh tế, xã hội, sinh mạng con người. Nhìn từ góc độ phát triển bền vững, ngành KTTV đã có sự vươn lên, nỗ lực rất lớn đáng ghi nhận trong đó công tác dự báo chính xác hơn, chặt chẽ hơn. Tuy nhiên, so với nhu cầu thực tiễn về công nghệ, đầu tư cơ sở vật chất và nâng cao trình độ thì vẫn rất cần sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đặc biệt sự chia sẻ, ủng hộ của cộng đồng. Và có lẽ dự báo thì sự chính xác của nó cần rất nhiều yếu tố.

Và hơn thế nữa, công tác dự báo KTTV ngoài đảm bảo sự phát triển bền vững kinh tế, xã hội đất nước thì nó còn đóng góp chung vào công tác dự báo biến đổi khí hậu toàn cầu. Do đó, những thách thức và áp lực đặt ra cho ngành KTTV là rất lớn. Nhưng đây là ngành đặc thù, mang tính học thuật sâu nên để xã hội thấu hiểu, chia sẻ là điều không đơn giản.

Việc dự báo KTTV, phục vụ yêu cầu phòng tránh và giảm nhẹ thiệt hại do thiên nhiên nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là vô cùng quan trọng. Với tinh thần như vậy, thay mặt báo Đại biểu nhân dân, tôi rất cảm ơn các chuyên gia, các nhà hoạch định chính sách, đại biểu Quốc hội, các nhà quản lý… đã tới dự tọa đàm hôm nay. Tôi mong muốn chúng ta sẽ trao đổi thẳng thắn các khía cạnh, đánh giá rõ và chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân với những đề xuất để làm sao hiện đại hóa ngành KTTV, giúp công tác dự báo chính xác hơn, đáp ứng nhu cầu đặt ra đối với phát triển bền vững kinh tế đất nước.

Và một điều rất quan trọng là sự quan tâm đúng mức của Đảng và Nhà nước, chia sẻ của người dân. Đồng thời có quốc sách kịp thời, mạnh mẽ về đầu tư. Công nghệ, khoa học, kỹ thuật hết sức quan trọng nhưng vấn đề hết sức quan trọng vẫn là yếu tố con người; con người có trách nhiệm, được đào tạo bài bản, và việc đào tạo cần chiến lược dài hơi.. cũng hết sức có ý nghĩa cho ngành KTTV nói riêng, và cho đất nước chúng ta nói chung.

Với tinh thần đó, một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn các vị đại biểu, các vị khách quý đã đến dự tọa đàm hôm nay.

Chúc buổi tọa đàm thành công tốt đẹp.

Vai trò của ngành khí tượng thủy văn trong giảm nhẹ thiên tai và thích ứng biến với đổi khí hậu

BTV Vũ Thủy: Ngành Khí tượng Việt Nam đã trải qua hơn 100 năm hoạt động và phát triển với nhiều cống hiến quan trọng cho đất nước cũng như nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng rất lớn của thiên tai có nguồn gốc KTTV, nhưng không thể phủ nhận một thế kỷ qua với sự nỗ lực không mệt mỏi của các nhà khoa học, nhà quản lý, những hiện tượng thời tiết, đặc biệt là thời tiết cực đoan đã được dự báo, cảnh báo tương đối kịp thời. Đặc biệt, với Việt Nam, một quốc gia mà ngành nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo, nhu cầu về thông tin thời tiết, về sự thay đổi mùa rất cần thiết thì vai trò của ngành KTTV lại càng quan trọng hơn bao giờ hết.

BTV Vũ Thủy: Xin được hỏi ông Trần Hồng Thái, Phó Tổng cục trưởng, Phụ trách Tổng cục KTTV, nhìn lại chặng đường hơn 100 năm phát triển ngành KTTV, điều gì làm ông ấn tượng hơn cả?

Ông Trần Hồng Thái: Ngành KTTV qua 100 năm phát triển, đặc biệt trong những năm gần đây vai trò của ngành KTTV đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đã ngày càng được nâng cao.

Tôi ấn tượng và tự hào rằng những thế hệ nhà khoa học, cán bộ viên chức toàn ngành đã phục vụ, bảo vệ thành quả phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đưa ra những thông tin cảnh báo kịp thời, chính xác để Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống thiên tai, các Bộ, ngành Trung ương và địa phương có phương án, giải pháp hành động phòng, chống thiên tai, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai.

Ngoài vai trò phục vụ phòng chống thiên tai thông tin KTTV còn phục vụ cho các ngành kinh tế phát triển. Chúng tôi cung cấp thông tin để ngành nông nghiệp phục vụ cho trồng trọt và chăn nuôi. Hay thông tin cho ngành điện trong việc  dự báo trước về dòng chảy để đảm bảo dung tích hồ chứa sản xuất điện tốt nhất… Ngành hàng không, hàng hải cũng rất cần thông tin của  KTTV. Những đóng góp của ngành khí tượng thủy văn tạo điều kiện cho sự phát triển và tăng trưởng của các ngành…


Ông Trần Hồng Thái, Phó Tổng cục trưởng, Phụ trách Tổng cục Khí tượng Thủy văn.

Qua hơn 100 năm ngành KTTV đã có bước phát triển vượt bậc. Trước đây, năm 1990 có Pháp lệnh về bảo vệ công trình khí tượng thủy văn, Từ 2015 đến nay có Luật về KTTV. Đây là bước tiến rất lớn, tạo ra hành lang pháp lý cho ngành KTTV phát triển, Luật KTTV và các văn bản dưới Luật đã từng bước điều chỉnh toàn diện hoạt động KTTV trên  lãnh thổ Việt Nam. Trong lĩnh vực KTTV mạng lưới quan trắc cũng có sự thay đổi đáng kể. Từ những năm mới giành độc lập, chúng ta có hơn 20  trạm KTTV thô sơ, đến năm 1964 ta có gần 80 trạm quan trắc. Nhưng đến nay chúng ta có khoảng trên 600 trạm quan trắc về KT,TV, hải văn kể cả trạm radar, thám không vô tuyến và khoảng gần 1.000 trạm đo mưa (trong đó có gần 40% là các trạm đo mưa tự động thay thế bằng các trạm đo mưa nhân dân thủ công). Các trạm này đã được đầu tư nhưng so với tỷ lệ, mật độ của thế giới cần có sự nỗ lực. Với số lượng trạm chưa nhiều nhưng các trạm này đã phần nào thực hiện tốt nhiệm vụ dự báo, cảnh báo thiên tai KTTV.

Ấn tượng thứ hai là khi chúng ta đã có mạng lưới quan sát thì cần một hệ thống thông tin, truyền tin và xử lý thông tin. Từ những thành tựu của công nghệ internet, số hóa thời kỳ 4.0 để chúng ta đã có mạng lưới thông tin dữ liệu tương đối bài bản. Chúng ta đã có hệ thống hệ thống máy tính hiệu năng cao, siêu máy tính mini,...
Thời kỳ trước năm 2000 thời hạn dự báo bão mới chỉ đạt từ 18 đến 24h. Từ năm 2000 trở về đây với sự phát triển công nghệ dự báo KTTV được thực hiện theo hướng mô hình hóa, tập trung chủ yếu cho các lĩnh vực dự báo thời tiết, dự báo thủy văn và dự báo hải văn. Hệ thống mô hình dự báo hiện đại của thế giới như của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Châu Âu,… được cải tiến, phát triển cho phù hợp với Việt Nam trong dự báo bão, dự báo mưa lớn,  dự báo lũ, cảnh báo lũ quét, dự báo song biển, nước dâng do bão hay gió mùa.

Nhờ các công nghệ dự báo này, dự báo bão ở Việt Nam đã được nâng thời hạn dự báo lên 5 ngày mà vẫn đảm bảo độ tin cậy như các nước tiên tiến. Đã triển khai dự báo thời tiết điểm chi tiết cho khoảng 600 điểm trên toàn quốc. Dự báo không khí lạnh, nắng nóng, khô hạn đạt yêu cầu của xã hội. Dự báo, cảnh báo lũ trên các sông khu vực miền Trung, Tây Nguyên trước 24-48 giờ, khu vực Bắc Bộ trước 3-5 ngày đạt độ tin cậy. Tuy nhiên cảnh bão lũ quét, sạt lở đất, dông sét vẫn có nhiều hạn chế do tính chất nhanh, bất ngờ của các hiện tượng này.

BTV Vũ Thủy: Theo ông, giai đoạn 2019 - 2020 thì sẽ nâng cao chất lượng dự báo vấn đề lũ quét, lũ ống, sạt lở đất. Vậy, việc này hiện giờ được định hướng cụ thể như thế nào, thưa ông?

Ông Trần Hồng Thái: Không chỉ tới năm 2020 mà trong những năm qua chúng tôi cũng đã có những điều tra, khảo sát, nghiên cứu để hướng tới mục tiêu từng bước cải thiện độ sát thực cho dự báo mưa, đã có điều tra khảo sát để bước đầu có thể thử nghiệm cảnh báo, dự báo lũ quét, sạt lở đất đến cấp huyện thị và một số khu vực địa hình đặc biệt có nguy cơ cao. Với khoa học hiện nay chưa thể dự báo và cảnh báo được về lũ quét và sạt lở đất chi tiết đến từng thôn bản đây là điều hết sức trăn trở. Bởi để làm được điều này thì ngoài thông tin về KTTV về lượng mưa thì cần có các thông tin quan trọng khác như: về lớp phủ thực vật, địa chất, địa bàn, quy hoạch và hiện trạng giao thông vận tải, dân cư… Để có được những thông tin quan trọng này cần có sự phối hợp của các bộ, ngành và địa phương để có sản phẩm dự báo tốt hơn. Chúng tôi đang có kế hoạch từng bước thực hiện những mục tiêu này. 

BTV Vũ Thủy: Thưa PGS. TS Nguyễn Văn Thắng, Viện trưởng Viện khoa học KTTV và Biến đổi khí hậu, theo ông, hiện công nghệ dự báo của Việt Nam đang ở đâu so với khu vực và thế giới?

Ông Nguyễn Văn Thắng: Hiện nay, trong dự báo thời tiết chúng ta tiếp nhận và phân tích các sản phẩm dự báo của các nước tiên tiến như Đức, Mỹ, châu Âu trong công tác dự báo, cảnh báo. Nếu phân tích kỹ thì trình độ của chúng ta tương đương. Ví dụ, năm 2000 tôi sang Mỹ học hỏi về công tác dự báo trong vòng 6 tuần, khi họ phân tích đường dòng đi trên mặt đất giữa đường biên giới giữa nước ta và Lào, hiện tượng gió tây khô nóng chúng ta hiểu được họ lại không hiểu được, trình độ phân tích của ta tiếp cận được sản phẩm đó có thể gọi là tương đương. Tuy nhiên, công nghệ của các nước tiên tiến như Mỹ, Nhật thì Việt Nam lại đang thiếu rất nhiều. Trong điều kiện Việt Nam nhiễu động khí quyển lớn gây nên nhiều sai số, chỉ cần tác động rất nhỏ cũng dẫn đến kết quả mô hình sẽ sai lớn cho nên bản tin của họ đối với ta chưa đáp ứng được nhu cầu. 


PGS. TS Nguyễn Văn Thắng, Viện trưởng Viện khoa học KTTV và Biến đổi khí hậu.

Như vậy, chúng ta cần phát triển mô hình dự báo trong khu vực với tham số vật lý phù hợp với điều kiện khu vực nước ta, điều này phải có sự hợp tác từ các nhà khoa học, nhất là trong điều kiện khí hậu nhiệt đới chúng ta chịu tác động từ 2 hệ thống lưu giữ lớn chi phối tác động của khí hậu thời tiết của ta. Chúng ta cần phát triển để làm chủ được mô hình và đưa tham số đặt phù hợp với điều kiện nước ta. Từ đó, cần phát triển hệ thống dự báo hạn cực ngắn, để dự báo thành công chúng ta phải báo hạn cực ngắn đòi hỏi không những là nguồn chuẩn hóa số liệu ước lượng mưa từ radar và hệ thống quan trắc đáp ứng nhu cầu tiến tới ngang với các nước.

Hy vọng thời gian tới với ý định ngành KTTV cũng tiếp cận, chuẩn hóa số liệu tất cả quan trắc có thể đáp ứng được nhu cầu tiến tới ngang với các nước. 

BTV Vũ Thủy: Trên thực tế có một số trường hợp dự báo sai, theo ông những trường hợp dự báo sai đó cho chúng ta những bài học gì và ở góc độ là cơ quan chuyên môn theo ông dư luận nên hiểu như thế nào về những trường hợp sai như thế?

Ông Nguyễn Văn Thắng: Trong một bản tin dự báo không hoàn toàn đúng được vì bản tin 3 ngày sẽ có những sai số, bản tin 2 ngày tiếp tục liên thông nhau, bản tin về cơ bản là cập nhật cho nhau. Nếu nói sai thì hầu như không phải sai và cũng không có bản tin cập nhật hoàn toàn đúng. Ở đây tôi cũng muốn truyền thông giúp cho ngành KTTV là hầu như người ta chỉ nhớ đến cái sai. Cái đúng họ nghĩ là đương nhiên, mặc dù là để làm công tác dự báo KTTV đòi hỏi trình độ toán học, vât lý, hiểu biết được cả khí quyển.

BTV Vũ Thủy: Thưa GS Phan Văn Tân, Đại học Quốc gia Hà Nội, một trong những hiện tượng thời tiết được nhiều người dân quan tâm là dự báo về bão. Ông có nhận định gì về khả năng dự báo bão hiện nay?

Ông Phan Văn Tân: Trên thế giới 70% thiên tai có nguồn gốc từ KTTV. Nói cách khác, nói đến phòng tránh thiên tai không thể không nói đến ngành KTTV. Vì vậy công tác KTTV cần phải được chú trọng đầu tư nếu muốn giảm thiểu thiên tai.


GS Phan Văn Tân, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Mỗi năm, Việt Nam thiệt hại khoảng 1 tỷ USD do thiên tai gây ra nói chung, nhưng đầu tư cho KHCN nói chung chỉ khoảng 500 trịêu, một con số rất nhỏ. Trong khi thiên tai gây ảnh hưởng rất lớn với Việt Nam, dường như tháng nào cũng có bão. Bão cuối năm có một đặc điểm là thường hay dịch chuyển vào phía Nam, đặc biệt người dân phía Nam không có khả năng chịu đựng bão, không có kinh nghiệm giống như người dân miền Trung và đồng bằng Bắc bộ. Mỗi lần bão đổ bộ vào miền Nam, cả nước đều lo lắng, đều hướng vào miền Nam để cho thấy công tác dự báo bão có tầm quan trọng rất lớn.

Trong số các hiện tượng được quan tâm, được quan tâm nhiều nhất là dự báo bão, bởi mỗi khi bão xuất hiện gây ảnh hưởng không chỉ trên biển và trên bờ mà còn ảnh hưởng không nhỏ tới ngư dân, bộ đội trên đảo, trên tàu phải đối mặt với sóng to gió lớn. Chính vì thế tôi nghĩ rằng dự báo bão luôn luôn là một bài toán khó. Năm 2005, tôi dự hội thảo tại CHLB Đức và đã được nghe một chuyên gia về bão trình bày báo cáo nói rằng trong điều kiện biến đổi khí hậu nóng lên toàn cầu, cường độ bão sẽ càng ngày càng gia tăng. Và đến tháng 10.2005, cơn bão Katrina đổ bộ vào Mỹ, gây thiệt hại lớn, nặng nề về người và của.  

Thực tế, dự báo bão là một bài toán khó bởi bão bản chất là một luồng gió xoáy, không thể quan sát, phát sinh từ biển. Trên biển không có số lịêu quan trắc, vì vậy khi nhìn ảnh cơn bão từ vệ tinh rất khó xác định tọa độ, không thể chính xác như ở mặt đất. Vì thế bản tin dự báo của Việt Nam trong những năm vừa qua về bão đã có sự tiến bộ chỉ ra được tâm của cơn bão đang ở đâu, tọa độ nào. Kinh nghiệm của những người dự báo bão ở Việt Nam hiện nay gần như là không có. Bởi bão hiện nay đi rất bất thường, nếu chỉ dựa vào kinh nghiệm sẽ sai, vì vậy công cụ mô hình giúp đội ngũ dự báo viên có thông tin quý giá. Chúng ta chưa có mô hình riêng về mô hình dự báo bão. Chúng ta hợp tác quốc tế về dự báo nói chung từ nhiều nguồn khác nhau, trên cơ sở thông tin đó chúng ta chọn lọc đưa ra dự báo cho mình.

Ngành KTTV đang được đầu tư nhiều và tôi hy vọng sẽ được đầu tư mạng lưới quan trắc, đầu tư xây dựng các thiết bị thu nhận thông tin như hệ thống rada, mạng lưới quan trắc trên đất liền cũng rất quan trọng. Nhưng bài toán dự báo khí tượng thủy văn không có ranh giới, biên giới nào nên Việt Nam cần phải có hệ thống mạng lưới dày đặc. Đặc biệt muốn nâng cao hiệu quả dự báo khí tượng thủy văn cần phải có công nghệ khai thác nguồn số liệu phi truyền thống.

BTV Vũ Thủy: Thưa bà Trần Thị Quốc Khánh, Ủy viên thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, các đại biểu đã đưa ra cách nhìn nhận, đánh giá vai trò của ngành KTTV trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Từ góc nhìn của cơ quan lập pháp và giám sát, bà đánh giá như thế nào về kết quả của ngành KTTV đạt được trong giảm nhẹ thiên tai và thích ứng biến với đổi khí hậu trong thời gian qua?

Bà Trần Thị Quốc Khánh: Nếu chúng ta theo dõi thì tác hại của thiên tai trong nhiều năm qua là vấn đề bức xúc trong xã hội, thậm chí trong cả các kỳ họp QH. Những năm gần đây, dự báo thời tiết đã khá sát nên cũng huy động được sự quan tâm của toàn xã hội, góp phần giảm nhẹ thiên thai. Cuối năm ngoái, miền Nam cũng có dự báo bão, tuy nhiên bão đã đi chệch hướng. Năm nay, với tinh thần dự báo bám sát, kịp thời, dù bão đã bổ bộ vào miền Nam nhưng số lượng tài sản và người bị thiệt hại đã khác hẳn so với những năm trước. Đây là nỗ lực âm thầm của những cán bộ, người lao động trong ngành KTTV trong thời gian qua, cùng với các cơ quan tổ chức và người dân đã phòng tránh kịp thời, tôi cho rằng góc độ này ai cũng nhìn thấy rõ.


Bà Trần Thị Quốc Khánh, Ủy viên thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệvà Môi trường của Quốc hội.

Tự động hóa trong dự báo khí tượng thủy văn - cần đầu tư thỏa đáng cho công nghệ

BTV Vũ Thủy: 10 năm trở lại đây, được sự quan tâm đầu tư của Nhà nước, của Bộ Tài nguyên và Môi trường, công nghệ dự báo thời tiết số - một phương pháp dự báo khách quan và định lượng đã được triển khai ứng dụng để bổ trợ cho phương pháp dự báo truyền thống. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, điều kiện thời tiết có chiều hướng diễn biến ngày càng phức tạp, biến động thất thường đã làm cho công tác dự báo KTTV gặp rất nhiều khó khăn và đứng trước nhiều thách thức lớn. Trong năm 2017, Việt Nam bị ảnh hưởng bởi 20 cơn bão và áp thấp nhiệt đới, đạt con số kỷ lục trong nhiều năm qua. Điều này đòi hỏi ngành KTTV phải đầu tư hơn nữa về con người, công nghệ dự thính, dự báo nhằm giảm tối đa thiệt hại cũng như làm cơ sở cho các chính sách phát triển kinh tế - xã hội khác.

Thưa ông Bùi Thanh Tùng, Phó trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH TP Hải Phòng, Ủy viên Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của QH, thời gian gần đây, những hiện tượng thời tiết bất thường và khắc nghiệt ở Việt Nam diễn biến ngày càng phức tạp. Theo đánh giá của thế giới, Việt Nam sẽ là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu. Ông nhìn nhận thế nào về thách thức của ngành KTTV trong bối cảnh này?

Ông Bùi Thanh Tùng: Tôi rất tán thành với thông tin đánh giá của các chuyên gia như GS Phan Văn Tân hay PGS.TS Nguyễn Văn Thắng, Phó Tổng cục trưởng, Phụ trách Tổng cục KTTV Trần Hồng Thái vừa trao đổi tại tọa đàm liên quan đến thành tựu, kết quả đạt được của ngành KTTV. Đồng thời, là những khó khăn, thách thức trong bối cảnh hiện nay khi mà biến đổi khí hậu làm cho yếu tố về thời tiết, khí hậu, thủy văn, hải văn gần như không còn quy luật nào cả. Tôi rất chia sẻ với ý kiến của GS Phan Văn Tân đã nói bởi không có quy luật đó là yếu tố khó nhất hiện nay cho ngành KTTV.


Ông Bùi Thanh Tùng, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH TP Hải Phòng,Ủy viên Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội.

Tôi lấy ví dụ là cơn bão Sơn Tinh là cơn bão số 8 năm 2012, lúc đó tôi đang làm bí thư huyện đảo Cát Hải. Phải nói rằng lúc đó khi nhận những bản dự báo thời tiết, dự báo bão đầu tiên thì toàn bộ dân huyện đảo Cát Hải và TP Hải Phòng rất ung dung vì cơn bão Sơn Tinh lúc đó đi vào Quảng Bình, Quảng Trị. Nhưng cơn bão đi theo một chu trình rất đặc biệt, vào đến gần Quảng Bình, Quảng Trị thì bắt đầu men theo dọc bờ biển lên phía Bắc, cuối cùng đổ bộ vào Hải Phòng, huyện đảo Cát Hải đúng tâm bão. Lúc đó, với những người ngư dân kỳ cựu của huyện đảo cũng không tưởng tượng bão sẽ vào Cát Hải, thậm chí khi chuẩn bị chống bão chúng tôi còn hỏi: “Theo các cụ thì bão có vào đây không?”. Các cụ còn trả lời, với kinh nghiệm mấy chục năm đi biển thì không có chuyện bão vào Cát Hải được. Nhưng cuối cùng bão vào thẳng Cát Hải với cường độ rất cao, tât nhiên chúng tôi đã chuẩn bị phương án chống bão rất chủ động, mặc dù vẫn có thiệt hại nhưng đã kiểm soát ở mức độ cao nhất.

Tôi muốn nhấn mạnh rằng, hiện nay những yếu tố khó lường, yếu tố bất không theo quy luật xảy ra rất rõ. Các kinh nghiệm của các cụ ngày xưa có rất nhiều liên quan đến thời tiết, thủy văn, khí tượng và thường những kinh nghiệm đó các cụ nói rất đúng. Nhưng đến thời điểm bây giờ những kinh nghiệm đó không còn giá trị, bởi vì tất cả những hiện tượng thời tiết bất thường, thiên tai, bão lũ, lũ ống, lũ quét, một loạt những vấn đề như vòi rồng, mưa đá... không theo một quy luật nào nữa, tôi cho đó là thách thức lớn nhất của ngành KTTV hiện nay.

Thứ hai, mặc dù có nhiều thành tựu trong những năm vừa qua, đặc biệt là công tác dự báo bão càng ngày càng sát hơn với quốc tế. Nhưng chúng ta còn rất nhiều hạn chế về yếu tố công nghệ dự báo. Phó Tổng cục trưởng, Phụ trách Tổng cục KTTV Trần Hồng Thái đã phân tích hệ thống các trạm quan trắc chúng ta so với thế giới chỉ khoảng 30-40% thôi. Tôi rất chia sẻ quan điểm của các đại biểu là công nghệ dự báo bão của chúng ta là một mô hình đòi hỏi một chuỗi số liệu không những trên bờ, mà còn ngoài đại dương, trên bầu khí quyển và đặc biệt là không chỉ số liệu ở thời điểm hiện tại mà thậm chí rất dài 10 năm hoặc hơn. Như vậy mô hình chỉ chính xác khi các chuỗi tham số chính xác, các điều kiện chính xác, mà không phải lúc nào chúng ta cũng có được hết những thông tin đó. Đó là thách thức lớn nhất về mặt công nghệ, tôi cho rằng không còn cách nào khác ngoài đầu tư hiện đại hóa công nghệ dự báo bên cạnh những hệ thống quan trắc cũng phải thiết kế các hệ thống phối hợp các mô hình dự báo để bảo đảm đầy đủ các tham số đầu vào cũng như các tham số biên để các mô hình của chúng ta thêm chính xác.

Tôi xin chia sẻ kinh nghiệm bản thân, thời gian làm bí thư huyện đảo Cát Hải - là địa phương gọi là “túi bão” mỗi khi bão vào khu vực phía Bắc. Từ những năm 2011 - 2012, khi bão vào chúng tôi bật so sánh 4 dự báo bão của Nhật Bản, Hải quân Mỹ, Hồng Kông và Việt Nam thì thấy rằng, giai đoạn đó dự báo của Hải quân Mỹ và Nhật Bản là chính xác nhất so với thực tế khi bão đổ bộ vào, còn của chúng ta thường lệch hoặc chậm hơn về mặt thời gian. 

Tuy nhiên, càng những năm gần đây chúng tôi tiếp tục theo dõi thì KTTV của Việt Nam ngày càng sát hơn và gần như trùng khớp với dự báo của Hải quân Mỹ và Nhật Bản. Tôi cho rằng đấy là thành công lớn, để đạt được mốc đấy không hề đơn giản. Người dân nghĩ đó là chuyện hết sức bình thường nhưng để đạt được dự báo bão vừa định hướng được về tâm bão, về mặt thời gian trùng khớp so với các đài KTTV lớn của quốc tế là không hề đơn giản chút nào. Vừa đòi hỏi trang thiết bị được đầu tư thích đáng, đồng thời năng lực phân tích đánh giá của cán bộ kỹ thuật được nâng lên đáng kể. Nếu chúng ta tiếp tục kiên trì hướng như vậy đầu tư trang thiết bị công nghệ, đào tại nguồn nhân lực tôi chắc rằng ngành KTTV sẽ đáp ứng được yêu cầu hiện nay.

BTV Vũ Thủy: Thưa PGS. TS. Nguyễn Văn Thắng, việc dự báo các hiện tượng thời tiết nguy hiểm hiện nay của ngành KTTV trong nước đang gặp những khó khăn gì? 

Ông Nguyễn Văn Thắng: Về đầu tư cho ngành Khí tượng thủy văn, có thể nói chúng ta cũng rất quan tâm và đầu tư. Tuy nhiên, nói về dự báo khí tượng thủy văn thì các hiện tượng thời tiết cực đoan là những hiện tượng hiếm và có tính bất ổn định. Và đây không chỉ là khó khăn đối với Việt Nam mà với tất cả các quốc gia trên thế giới, quốc gia nào cũng có thời tiết cực đoan và cũng đều bị thời tiết cực đoan làm tổn hại tới kinh tế. Như vậy, giải pháp chính là mô hình động lực, là công cụ tốt nhất để dự báo thời tiết cực đoan. Tuy nhiên, kỹ năng dự báo của mô hình ở Việt Nam sẽ khó hơn các nước khác vì ngay từ số liệu đầu vào, tài nguyên tính toán, về tổ hợp dự báo, cập nhật số liệu địa phương thì chúng ta còn phải đang cố gắng.


Hơn nữa, mô hình không thể đúng trong mọi trường hợp, vì đã là mô hình thì đã được tham số hóa. Vì thế, mô hình có thể đúng chỗ này nhưng sai chỗ khác, chúng ta không thể tin hoàn toàn vào mô hình vì có rất nhiều mô hình, chúng ta phải biết tổ hợp, phân tích.

Khi dự báo được 3 ngày rồi thì 2 ngày ta phải kết hợp được mô hình động lực, ngoài mô hình lực thì cần có hệ thống công nghệ dự báo hạn cực ngắn. Chúng ta đang dự báo từ 3 tiếng - 12 tiếng. Khi dự báo trước 3 tiếng thì đòi hỏi độ tin cậy cực cao và chúng ta đã dám làm điều đó để dự báo. Và để dự báo được như vậy thì hệ thống trạm giao mưa phải đủ dày như thế nào và hệ thống radar phải được trang bị ra sao? Cái đó là rất tốn kém. Đối với Việt Nam, mạng lưới quan trắc phục vụ cho dự báo, cảnh báo chưa được đồng bộ để truyền số liệu và quan trắc tự động để truyền dữ liệu vào phục vụ cho các mô hình. Đó là điều chúng ta còn thiếu.

Ví dụ: Với lũ quét, ít nhất phải dự báo được định lượng mưa, nhưng việc dự báo mưa không dễ dàng, nhất là với mưa cục bộ. Công nghệ hiện tại chúng ta đang sử dụng không đủ chi tiết để ước lượng được, trạm mưa không đủ dày. Đó là hạn chế, và nó lại xảy ra ở vùng núi cao nên càng khó. Như vậy, công nghệ có thể đạt được tốt thường sẽ phân tích sản phẩm ước lượng mưa, định lượng mưa từ radar. Như vậy, để đầu tư được hệ thống radar đủ độ dày như thế là tốn kém, không thể làm ngay được. Và không phải cứ radar xong, ta ước lượng mưa, nói mưa là sẽ mưa. Bản thân nó phải có một trạm giao mưa tương đối dày. Đó là cái khó, cần phải dần khắc phục.

Hơn nữa, hoạt động kinh tế - xã hội cũng phát triển nhiều về ngành, nghề, lĩnh vực và thậm chí phát triển ra những vùng núi và biển, mà ở đó nguy cơ KTTV là tương đối cao, trong khi đất nước ta cũng chưa quan tâm lắm. Và hơn nữa, biến đổi khí hậu làm cho thời tiết cực đoan sai quy luật, gia tăng cả về cường độ, phạm vi, tần suất và nó không đúng theo quy luật. Ví dụ, mưa lớn vào mùa ít mưa thì đó là thời tiết cực đoan. Như vậy, phải nhận định rằng còn nhiều khó khăn đối với công tác dự báo khí tượng thủy văn, đặc biệt là dự báo các hiện tượng thời tiết cực đoan.

BTV Vũ Thủy: Vừa rồi, PGS. TS Nguyễn Văn Thắng đã phân tích rất rõ về đầu tư cho KTTV. Thưa ông Trần Hồng Thái, ông có nhận xét gì về những phân tích trên? Theo đánh giá của ông thì đầu tư cho KTTV đã đầy đủ chưa?

Ông Trần Hồng Thái: Từ góc độ của Tổng cục KTTV, khi đưa ra một bản tin phải đánh giá và có quy trình cụ thể, chúng tôi phải tính đến mọi khả năng. Mỗi một dòng tin cảnh báo, dự báo của chúng tôi là sự cân nhắc rất kỹ lưỡng bởi sẽ ảnh hưởng đến việc bảo vệ hay không bảo vệ được người và của, chúng tôi không được phép đưa ra ý kiến cảm quan của mình mà phải đảm bảo đúng với quy trình quy phạm.

Cũng có những nhà khoa học, nhà ngoại cảm có ý kiến tới Thủ tướng, tới Chính phủ là có khả năng dừng được bão, nhìn được bão…. Chúng tôi trân trọng tất cả những nỗ lực của tất cả tập thể, cá nhân trong công cuộc phòng chống thiên tai nhưng KTTV là ngành khoa học ứng dụng chúng tôi làm việc phải có quy trình cụ thể. Ngành KTTV đã và đang hoàn thiện những quy trình cụ thể, chi tiết hóa nhiệm vụ, trách nhiệm của từng tập thể, cá nhân.

Tôi có thể khẳng định dự báo bão khi vào đến đất liền của Việt Nam đã sát hơn dự bão báo của các nước khác. Cụ thể, cơn bão số 9 vừa qua, Nhật dự báo vào đến Việt Nam cấp 11 giật cấp 14, nhưng chúng tôi dự báo tương đối chính xác. Vì chúng tôi biết rằng nếu dự báo quá cao thì chúng ta phải đầu tư kinh phí, trang thiết bị và huy động nguồn nhân lực để di dân, rất tốn kém. Nhưng dự báo thấp quá thì gây thiệt hại. Cho nên chúng tôi luôn trăn trở để tìm mọi nguồn thông tin chính xác nhất. Với bờ biển hàng nghìn km, để quan trắc được rất khó, rất khó có thể dùng ảnh vệ tinh để giám sát được mây, mắt bão chính xác bởi hệ thống quan trắc mặt đất và đặc biệt trên biển chúng ta không có. Có một số trường hợp chúng tôi phải liên hệ với các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân để lấy thêm thông tin quan trắc, để đưa ra dự báo chính xác nhất  khi bão đến vùng biển và ảnh hưởng đến đất liền Việt Nam, Điều đó cho thấy rõ ràng nếu chúng ta có mạng lưới quan trắc ở trên biển, ven bờ và quan trắc ở đất liền chúng ta  có thể có thông tin cụ thể và chính xác hơn. Tôi khẳng định, mặc dù chúng ta còn nhiều khó khăn nhưng chúng tôi vẫn cố gắng đưa ra những dự báo chính xác nhất.

Về đầu tư, tôi đồng tình là chúng tôi phải đầu tư. Theo thông tin nghiên cứu của Tổ chức khí tượng Thế giới và Ngân hàng Thế giới, “Đầu tư một đồng cho KTTV sẽ mang lại hiệu quả kinh tế, từ việc giảm thiệt hại về kinh tế xấp xỉ 28-30 đồng”, chưa tính đến những thiệt hại về sinh mạng con người. Do đó tôi nghĩ đầu tư vào KTTV là đầu tư quan trọng nhất. Đầu tư là hết sức cần thiết. Đầu tư theo hướng xây dựng mạng lưới trạm công nghệ mới. Tuy nhiên đầu tư khí tượng thủy văn không thể tách rời đầu tư cho các bộ ngành, việc phối hợp với các bộ ngành, địa phương  là rất quan trọng bởi ở trung ương không thể dự báo được chi tiết tất cả các khu vực.

Tôi đi về các tỉnh thấy lũ quét, sạt lở đất diễn ra ở phạm vi rất hẹp, Trung ương không thể bao quát hết được, chính vì vậy tổ chức Khí tượng Thế giới đang đẩy mạnh định hướng cho các quốc gia về việc xây dựng hệ thống cảnh báo sớm đa thiên tai có sự tham gia của  quyền địa phương và cộng đồng để tăng khả năng ứng phó thiên tai ở địa phương.

Về đầu tư cụ thể, trước hết chúng ta phải đầu tư về hệ thống phát luật và cơ sở pháp lý, phải có quy chuẩn. Chúng ta đã có Luật, các thông tư hướng dẫn cần phải chuẩn hóa, phải có tiêu chuẩn cụ thể để ràng buộc được trách nhiệm của từng tập thể, cá nhân.

Về đầu tư nguồn lực, thời gian qua Đảng và Nhà nước quan tâm đến lĩnh vực KTTV. Trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn như thì KTTV được đầu tư như vậy cũng là thỏa đáng. Tuy nhiên, so với các nước phát triển trong nước và khu vực, tương đồng như chúng ta thì kinh phí của chúng ta còn hạn chế. Ví dụ, Hàn Quốc đầu tư khoảng 800 triệu đến 1 tỷ USD trong một năm… Nhưng với lượng kinh phí đầu tư như hiện nay vào KTTV nếu chúng ta ưu tiên đầu tư có trọng tâm, trọng điểm thì mang lại hiệu quả và đạt yêu cầu. Đầu tiên là ưu tiên đầu tư vào vùng tiềm ẩn nguy cơ lũ quét, sạt lở đất, nơi có thiên tai trong phạm vi hẹp. Trước mắt, hoàn thiện bản đồ cảnh báo, nguy cơ lũ quét sạt lở đất ở vùng miền Bắc, miền Trung, Tây Nguyên với tỷ lệ 1/1000 để các địa phương sử dụng để cho các khu vực phát triển.

Trong năm 2019 - 2020 chúng tôi cũng xây dựng bộ công cụ cảnh báo về sạt lở đất; đưa ra các tiêu chí, bộ công cụ từ trung ương đến cấp xã. Nhưng cần có sự phối hợp với địa phương để sự đào tạo nguồn nhân lực; cung cấp chia sẻ thông tin với các bộ, ngành thông tin về quy hoạch, hiện trạng sạt lở ở các địa phương nơi có lũ quét thường xảy ra trên diện hẹp.

Hai là, hiện chúng ta có nhiều mô hình để dự báo, chống bão trong khu vực và của Việt Nam. Chúng ta cần tổng hợp lại thành một bộ công cụ mô hình mang tính chất tổng hợp đầy đủ để đồng hóa được các số liệu quan trắc trong nước và số liệu quan trắc chia sẻ qua mạng lưới quốc tế.

Ngoài ra, chúng ta tập trung đào tạo lực lượng cán bộ gắn với công nghệ quan trắc hiện đại. Lực lượng cán bộ rất quan trọng. Những năm vừa qua Chúng tôi đã cử nhiều cán bộ đi học nâng cao ở các nước phát triển và hiện nay đã trở về làm việc cho ngành KTTV đang phát huy rất tốt vai trò. Chúng tôi cũng mong muốn, trong chương trình đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo có chương trình đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho ngành KTTV.

Ông Bùi Thanh Tùng: Tôi cho rằng những định hương mà Phó Tổng cục trưởng, Phụ trách Tổng cục KTTV Trần Hồng Thái vừa nêu là hoàn toàn xác đáng, đó là tập trung vào đầu tư khắc phục những hướng khó khăn trong lĩnh vực chúng ta đang hạn chế. Ví dụ như đầu tư mô hình dự báo mang tính tổng thể kết nối cả dữ liệu trên đất liền, dữ liệu từ hệ thống radar, hệ thống từ vệ tinh, dữ liệu từ xa trên biển thông qua kết hợp dữ liệu từ các ngành khác ngoài ngành KTTV. Hay kết hợp với dữ liệu từ các nước trong khu vực và quốc tế để chúng ta có một mô hình dự báo có thông tin dự báo chính xác, kịp thời thậm chí phải cảnh báo được sớm. Tôi cho rằng đấy là những điểm trọng tâm hết sức đúng đắn.


Vấn đề chúng ta hiện nay đang yếu đó là dự báo cực ngắn như giông lốc, mưa đá, lũ ống, lũ quét đòi hỏi cách tiếp cận, cách đầu tư, cách xử lý khác với dự báo vừa, dự báo dài và đặc biệt khác với dự báo bão. Có yếu tố nữa là ngoài chuyện dự báo và số liệu quan trắc bảo đảm số liệu mang tính đồng bộ thì phải quan tâm hơn, đầu tư hơn công tác điều tra khảo sát về KTTV nói chung và biến đổi khí hậu nói riêng. Việc này giúp cho chúng ta có thêm năng lực về giám sát, biến đổi khí hậu; khi giám sát tốt sẽ là “nền” của công tác phòng chống thiên tai. Đồng thời đó cũng là “nền” quan trọng để chúng ta lồng ghép yếu tố đó vào cho các nhà hoạch định chính sách trong quyết định những vấn đề liên quan đến chiến lược quy hoạch. Vì nếu chúng ta không lồng ghép được thì rất nhiều chiến lược quy hoạch không đáp ứng được các yếu tố phòng chống thiên tai.

Có thể quy hoạch trên bình diện bản vẽ, yếu tố kinh tế xã hội rất đẹp nhưng không đáp ứng được yếu tố phòng chống thiên tai thì chỉ cần một cơn lũ quét hay cơn bão mọi thành quả không còn gì cả. Vậy làm thế nào để lồng ghép được các kết quả dự báo, cũng như điều tra khảo sát đánh giá về biến đổi khí hậu, KTTV vào với công cụ lập chiến lược quy hoạch, tôi cho là điều rất quan trọng. Đó không chỉ vai trò của Tổng cục KTTV mà còn của Bộ Tài nguyên- Môi trường, phối hợp giữa các bộ, ngành và đặc biệt là các địa phương.

Vấn đề nữa là công tác tuyên truyền, nhận thức của cả cộng đồng, chính quyền địa phương và người dân liên quan đến tầm quan trọng của dự báo KTTV. Nói cho cùng, chúng ta dự báo, mất rất nhiều công sức để đưa ra cảnh báo nhưng nếu nhận thức người dân không đầy đủ thì không thực hiện được phương châm “4 tại chỗ” mỗi khi có thiên tai. Với các địa phương, chỉ có nhận thức tốt mới thực hiện được những phương án đối phó.

Theo tôi, hành lang pháp lý là quan trọng nhất, hiện nay đã có luật về KTTV từ năm 2015, có một số nghị định, thông tư. Tôi xin chia sẻ ý kiến của Phó Tổng cục trưởng, Phụ trách Tổng cục KTTV Trần Hồng Thái rất nhiều quy chuẩn kỹ thuật hiện nay chúng ta chưa đủ, rất nhiều công cụ kỹ thuật phục vụ cho công tác dự báo, công tác điều tra khảo sát, giám sát cũng còn thiếu. Tôi nghĩ rằng về mặt pháp lý mà nói chúng ta cần quan tâm hơn đến vấn đề này.

BTV Vũ Thủy: Câu hỏi tiếp theo, xin được dành cho GS Phan Văn Tân. Ông đánh giá thế nào về công nghệ và năng lực tính toán trong ngành KTTV hiện nay? Điều này sẽ ảnh hưởng thế nào đến chất lượng dự báo?

Ông Phan Văn Tân: Theo tôi, tất cả hiện tượng xảy ra không phải cái nào cũng dự báo được, có những hiện tượng quy mô nhỏ, rất nhỏ không thể dự báo được. Vậy làm thế nào để giảm thiểu được những hiện tượng đó? Cần phải có giám sát và cảnh báo hạn cực ngắn. Ví dụ cơn lốc năm 2015 xảy ra ở Hà Nội, nếu chúng ta có hệ thống radar ở 3 góc chập lại có thể phát hiện được "ổ dông" cách xa và người dân biết trước được 30 phút, sẽ có thể chủ động giảm thiểu tác động của cơn lốc. Phải nhắc lại rằng,hiện tượng thiên nhiên có những hiện tượng dự báo được, có những hiện tượng không dự báo được, có những hiện tượng phát hiện được, cũng có những hiện tượng không phát hiện được. Chính vì thế những trường hợp nào phát hiện đuợc nhưng không dự báo được chúng ta cần có thiết bị giám sát và cảnh báo về nó.

BTV Vũ Thủy: Thưa PGS. TS Nguyễn Văn Thắng, mục tiêu mà Bộ Tài nguyên và Môi trường đưa ra là đến năm 2020, mạng lưới quan trắc khí tượng thủy văn có mật độ trạm tương đương với các nước phát triển và tự động hóa trên 90% số trạm quan trắc, đồng thời tăng cường các hệ thống đo đạc từ xa, bảo đảm theo dõi liên tục các biến động về thời tiết, khí hậu, tài nguyên nước, đáp ứng đầy đủ dữ liệu cho dự báo khí tượng thủy văn theo phương pháp tiên tiến. Theo ông, cần đầu tư cho công nghệ và nhân lực như thế nào để đáp ứng được yêu cầu trên?

PGS. TS. Nguyễn Văn Thắng: Có thể nói mục tiêu này khá gắn bó, biết rằng quyết tâm của ngành KTTV đưa ra là đến năm 2020, mạng lưới quan trắc khí tượng thủy văn có mật độ trạm tương đương với các nước phát triển và tự động hóa trên 90% số trạm quan trắc, đồng thời tăng cường các hệ thống đo đạc từ xa, bảo đảm theo dõi liên tục các biến động về thời tiết, khí hậu, tài nguyên nước, đáp ứng đầy đủ dữ liệu cho dự báo khí tượng thủy văn theo phương pháp tiên tiến còn 2 năm nữa. Tuy nhiên, muốn dự báo tốt chúng ta phải đầu tư vào nhân lực và công nghệ.


Thứ nhất, phải tập huấn cho những cán bộ có đủ năng lực để tiếp cận và vận hành việc cải tiến cả môi trường và phát triển công nghệ sinh học. Chuyển giao công nghệ và đào tạo cho các dự báo viên ở địa phương. Chuyển dần những người ở quan trắc tự động hóa ra làm dự báo viên để họ nắm được KTTV ở vùng đó. Muốn đào tạo cũng phải có trình độ, không biết thì không thể thuyết phục được người dân, nhất là cảnh báo nguy cơ về mưa và lũ quét thì vai trò của địa phương cực kỳ quan trọng. Chỉ cần nửa tiếng hoặc 1 tiếng là cứu được bao nhiêu mạng người. Thực tế cho thấy nhân lực rất quan trọng, không những chạy mô hình tốt, mà còn phải có nhân lực phân tích được những kết quả mô hình của địa phương và đưa ra phán đoán. Như vậy, người làm dự báo có thể chi tiết hóa được kết quả của Trung ương cho địa phương mình. Đây cũng là hướng đào tạo cho ngành học KTTV tai các trường.

Thứ hai, đầu tư phải đồng bộ được quan trắc tự động trạm radar, viễn thám có thể tích hợp mưa từ trạm quan trắc với nhau nhằm dự báo định lượng mưa lớn cho phạm vi nhỏ. Như vậy mới cảnh báo giám sát được khí tượng thủy văn kể cả cảnh báo lũ quét.

Thứ ba, phát triển công nghệ đồng hóa dữ liệu đảm bảo có thể cập nhật liên tục các loại số liệu của tất cả các nguồn quan trắc truyền thống và phi truyền thống thành một hệ thống... Tôi nghĩ chúng ta phải đầu tư một hệ thống tính toán nâng cao, độ phân giải cao cỡ 1-5 km và liên tục cập nhật 4-8h ngày.

Tôi nhấn mạnh, đầu tư cho KTTV không nên đầu tư một lần. Vì nó phải duy trì hoạt động, phải vận hành, đến 50 năm sau thì thiết bị công nghệ đã lạc hậu và có khi hỏng, điều này rất nguy hiểm. Ngay khi bị cơn bão vào thì thiết bị này cũng có khả năng bị hỏng chứ không mãi được. 

“Kết nối không biên giới” trong công tác dự báo, cảnh báo

BTV Vũ Thủy: Chiến lược phát triển ngành Khí tượng thủy văn đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã xác định: “Ngành Khí tượng thủy văn có vị trí quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng an ninh, đặc biệt trong công tác phòng, tránh và giảm nhẹ thiên tai. Phát triển ngành Khí tượng thủy văn phải đồng bộ theo hướng hiện đại…”.

Để thực hiện có hiệu quả chiến lược trên, những năm gần đây, ngành Khí tượng Thủy văn Việt Nam đã phát triển sâu rộng, góp phần tích cực vào quá trình phát triển của ngành nói riêng và sự nghiệp phát triển đất nước nói chung. Năm 2018, Việt Nam là quốc gia đăng cai tổ chức khóa họp thường niên lần thứ 50 của Ủy ban Bão tại Hà Nội. Chúng ta cũng dành sự quan tâm đặc biệt đến hợp tác quốc tế và huy động nguồn lực từ quốc tế thông qua các dự án sử dụng nguồn hỗ trợ ODA nhằm hiện đại hóa công nghệ dự báo và mạng lưới quan trắc khí tượng thủy văn. Điển hình là các dự án viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Nhật bản, dự án vay ưu đãi ODA của Chính phủ Pháp, Italia, của Ngân hàng thế giới và một số dự án hỗ trợ kỹ thuật khác do Chính phủ Hàn Quốc, Phần Lan, Thụy Sỹ tài trợ.

BTV Vũ Thủy: Trên thực tế, hoạt động giao lưu hợp tác của ngành KTTV với các bạn bè quốc tế cũng phát triển mạnh mẽ trong nhiều năm gần đây. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này tập trung vào những nội dung chính nào, thưa ông Trần Hồng Thái? 

Ông Trần Hồng Thái: Công tác KTTV là không có biên giới, tất cả các nước cùng chịu tác động và các nước đều cần có thông tin. Do đó, công tác hợp quốc tế trong lĩnh vực này rất quan trọng. Trong những năm trước, chúng ta cố gắng hợp tác theo bề rộng, cố gắng thể hiện mối quan tâm của Việt Nam đối với quốc tế về lĩnh vực này và muốn kêu gọi sự tài trợ quốc tế từ tài chính và công nghệ. Nhưng từ 5 năm trở lại đây, quan hệ hợp tác lại đi vào chiều sâu, chúng ta không chỉ còn thu nhận những thông tin quốc tế, mà chúng ta còn đóng góp lại cho quốc tế nguồn lực về nhân lực, tài chính và sản phẩm công nghệ.


Trong những năm vừa qua, đặc biệt từ năm 2017, 2018, Tổ chức khí tượng thế giới đã chính thức công nhận Việt Nam là một mắt xích quan trọng đối với thế giới, là một thành viên chủ động. Trung tâm Dự báo KTTV quốc gia đã được công nhận là trung tâm dự báo khu vực. Bên cạnh việc chúng ta tiếp nhận các số liệu, các chia sẻ thông tin kỹ thuật từ các nước khác thì Việt Nam đã trở thành trung tâm để thay mặt cho tổ chức khí tượng thế giới hỗ trợ cho các nước như Lào, Campuchia, Thái Lan, Philippines trong công tác dự báo, cảnh báo. Đây là nỗ lực khá lớn được Tổ chức Khí tượng thế giới công nhận đạt chuẩn là Trung tâm Dự báo khu vực.

Thứ hai, chúng ta đã trở thành trung tâm hỗ trợ cho công tác đào tạo về lũ quét, sạt lở đất. Từng bước tham dự các hoạt động đào tạo của thế giới, các tổ chức đa phương… chúng ta đã đăng cai tổ chức nhiều khóa đạo tạo của thế giới về lũ quét sạt lở đất. Qua đó, số chuyên gia người Việt Nam được tham gia đào tạo tăng lên rất nhiều, góp phần rất tốt cho công tác dự báo và Thế giới biết đến Việt Nam nhiều hơn.

Chúng ta cần thiết lập các hệ thống quan trắc ở biển vì diện tích có biển chúng ta rất rộng. Có được số liệu trên biển chúng ta sẽ có cơ sở dữ liệu để dự báo được những khả năng của cơn bão khi ảnh hưởng…

Ngoài phối hợp đa phương, Việt Nam đã phối hợp nhiều song phương, chúng tôi thiết lập nhiều kênh thông tin với các nước bạn như Nhật, Hồng Kông, Trung Quốc để trao đổi thông tin, cùng đưa ra nhận định về dự báo và cảnh báo  bão. Đây là kênh thông tin hết sức hiệu quả trong công tác dự báo bão khi chưa cập bờ. Chúng ta cũng đã phối hợp với một số nước như Phần Lan hay Nhật Bản để tăng cường năng lực quan trắc của mạng lưới radar. Chúng ta đã đề nghị Nhật Bản hỗ trợ không hoàn lại cho hai radar và hỗ trợ kỹ thuật ở Vinh và Phù Liễn…

Bên cạnh đó, chúng ta có quan hệ rất tốt với nhiều nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông, Trung Quốc để hỗ trợ kỹ thuật cho chúng ta. Hàn Quốc sẵn sàng đầu tư, viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam hệ thống quan trắc tự động, công nghệ truyền tin…

Bên cạnh những đóng góp cho Tổ chức khí tượng thế giới, những tổ chức ở  khu vực và bên cạnh đó là việc cố gắng tìm kiếm sự hỗ trợ về tài chính, về kỹ thuật của các nước phát triển, Việt Nam đã từng bước nâng cao vị trí, vai trò trên trường quốc tế và khu vực. Chúng ta đã chủ động hơn, có tiếng nói nhất định trong Tổ chức khí tượng thế giới. Tổ chức Khí tượng thế giới cũng rất quan tâm đến tiếng nói của Việt Nam. Trong thời gian tới, chúng ta cũng cố gắng tiếp cận theo hình thức để các chuyên gia tham gia vào các sự kiện tầm thế giới. Tôi cho rằng đây là chiến lược hợp tác quốc tế mà Tổng cục rất quan tâm.

Ở một khía cạnh khác, để giữ tình đoàn kết trong khu vực cũng là nâng cao vai trò của KTTV thì ngành KTTV đang có những dự án hỗ trợ cho các nước bạn Lào, Campuchia, tăng cường năng lực quan trắc, giám sát, dự báo thiên tai cho các nước bạn trong khu vực. Chúng ta làm như vậy vừa tăng cường lực của chúng ta, vừa tăng cường lực cho bạn, vừa tăng cường lực hợp tác quốc tế giữa ngành KTTV Việt Nam với Ngành KTTV của hai nước bạn. Mặt khác, các số liệu quan trắc từ Lào và Campuchia phục vụ rất hiệu quả cho công tác dự báo của Việt Nam.

BTV Vũ Thủy: Thưa bà Nguyễn Thị Quốc Khánh, bà đánh giá thế nào về những thành tựu trong hợp tác quốc tế của ngành KTTV thời gian qua?


Bà Trần Thị Quốc Khánh: Trước hết tôi tán đồng với ý kiến của PGS. TS Trần Hồng Thái đã nêu một cách khái quát đến những thành tựu về hợp tác quốc tế của ngành đã đạt được trong thời gian qua. Trên cơ sở của Luật đã được QH thông qua, với sự quan tâm của Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, ngành KTTV đã khắc phục được khó khăn, vươn lên hội nhập quốc tế để có được sự hợp tác tốt nhất, tận dụng được cơ hội, giảm bớt thách thức trong hoạt động dự báo của mình. Mong rằng ngành KTTV trong thời gian tới tiếp tục hội nhập tốt hơn, phối hợp chặt chẽ, tận dụng được công nghệ các nước đang làm.

BTV Vũ Thủy: Trong tương lai, ngành KTTV Việt Nam cần có phương hướng như thế nào để phát triển quan hệ hợp tác quốc tế một cách có hiệu quả thưa GS Phan Văn Tân?

Ông Phan Văn Tân: Hợp tác quốc tế là vấn đề không thể thiếu, bởi ngành KTTV không có ranh giới về mặt không gian. Hợp tác quốc tế có nhiều góc độ, như trong hợp tác nghiên cứu khoa học có rất nhiều cách làm khác nhau như cùng thực hiện các đề tài dự án nhưng cũng có thể là ngồi ở hai đất nước khác nhau cùng trao đổi và viết bài báo khoa học. Đây cũng là một cách hợp tác quốc tế. Nói đến hợp tác để phát triển lĩnh vực dự báo ở Việt Nam, tôi thấy:

Thứ nhất, mời các chuyên gia nước ngoài đến Việt Nam để họ thấy được thực tiễn Việt Nam hiện nay,  biết họ cần gì và chúng ta cần gì, họ có thể giúp đỡ chúng ta những gì.

Thứ hai, phải có cơ chế đãi ngộ phù hợp đối với những người trẻ Việt Nam học tập và làm việc trong ngành khí tượng thủy văn tại nước ngoài muốn trở về nước cống hiến. Bởi đây là nguồn nhân lực trí thức cao, được đào tạo bài bản và thực sự muốn quay trở lại cống hiến cho ngành khí tượng thủy văn nước ta chứ không phải là vì mục đích nào khác. Chính vì vậy cần phải có những cơ chế chính sách phù hợp để thúc đẩy, tạo điều kiện thu hút được nguồn nhân lực này, nâng cao hiệu quả công tác khí tượng thủy văn ở Việt Nam.

BTV Vũ Thủy: Thưa ông Trần Hồng Thái, nhiều ý kiến cho rằng, thực tế có nhiều người trẻ, những nhà khoa học rất giỏi rất muốn về Việt Nam nhưng vì chế độ đãi ngộ, cung cách làm việc đã làm cho họ cảm thấy nản. Điều này có đúng không thưa ông?

Ông Trần Hồng Thái: Nhiều người trong chúng tôi được đào tạo cơ bản ở trường có uy tín, đã trải qua nhiều công việc ở các môi trường khác nhau và khi về nước cũng có nhiều sự lựa chọn khác. Cá nhân tôi thấy thỏa mãn với môi trường nghiên cứu về KTTV tại Việt Nam hiện nay. Nếu chúng ta nghĩ đầu tiên là chế độ đãi ngộ thì chúng ta khó mà thành công được, theo quan điểm của cá nhân tôi cần xem chúng ta đóng góp thế nào rồi hãy nghĩ đến nhận lại ra sao. Đánh giá một cách chủ quan là tôi thỏa mãn với công tác của tôi đến thời điểm này. Tôi có đôi lần trao đổi với một số bạn trẻ, tôi nghĩ một người giỏi phải là người làm việc được ở bất kỳ môi trường nào.

Có những nhà khoa học thuần túy là khoa học, nhưng có những nhà khoa học là kết nối ứng dụng, có những nhà khoa học là ứng dụng. Tôi cho rằng với khoa học KTTV cần làm việc nghiêm túc và nghĩ đến những nghiên cứu ứng dụng cho đất nước. Việt Nam không quá giàu, không đủ tiềm lực để nghiên cứu khoa học cơ bản bởi nghiên cứu cơ bản chỉ có ở những nước phát triển, đó là những nghiên cứu mang tính đột phá khoa học, dùng đột phá đó để phát triển công nghệ. Còn với ngành KTTV của chúng tôi bản chất là nghiên cứu ứng dụng mà nghiên cứu ứng dụng thì phải đưa ra kết quả cụ thể, chính xác.

Còn ở góc độ quản lý thì chúng ta có nhiều ưu tiên khác nhau. Nhưng ở Tổng cục KTTV, chúng tôi đang đạo tạo ra những nhóm nghiên cứu. Những gì Tổng cục có thể làm được đó là thì ưu tiên tối đa cho các nhà khoa học về lĩnh vực đó…


PGS.TS  Đỗ Chí Nghĩa- Tổng biên tập Báo Đại biểu nhân dân chụp ảnh lưu niệmcùng các khách mời tham gia Tọa đàm.

PGS.TS  Đỗ Chí Nghĩa- Tổng biên tập Báo Đại biểu nhân dân phát biểu kết thúc Tọa đàm:

Kính thưa các vị đại biểu, các vị khách quý!

Sự biến động ngày càng gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan đã và đang thôi thúc con người không ngừng bỏ công sức nghiên cứu, tìm hiểu ứng dụng khoa học công nghệ để theo dõi thiên tai có nguồn gốc KTTV nhằm từng bước quản lý và thích ứng trong bối cảnh biến đổi khí hậu. 

Những thách thức trong công tác dự báo KTTV và đòi hỏi ngày càng cao của công tác chỉ đạo, chỉ huy và nhu cầu của toàn xã hội về các bản tin cảnh báo, dự báo KTTV phải đạt độ tin cậy cao, cảnh báo phải sớm và kịp thời; do đó đòi hỏi công nghệ dự báo không ngừng được đổi mới và phát triển. Ðể tháo gỡ những khó khăn nêu trên, sự quan tâm, đầu tư và chỉ đạo sát sao của Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường và các bộ, ngành liên quan là hết sức cần thiết và cấp bách, góp phần phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra, bảo đảm an ninh - quốc phòng của đất nước.

Qua các ý kiến chia sẻ tâm huyết, thẳng thắn, trách nhiệm của các đại biểu tại Tọa đàm ngày hôm nay một lần nữa khẳng định ngành KTTV cần phải đầu tư hơn nữa về công nghệ quan trắc, dự báo nhằm giảm tối đa thiệt hại do thiên tai gây ra; đặc biệt, tìm các giải pháp chiến lược để nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, thu hẹp khoảng cách với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Trân trọng cảm ơn các vị khách quý đã tham gia Tọa đàm ngày hôm nay và mong được gặp lại trong lần đối thoại lần sau.

Xin trân trọng cảm ơn!

------------------------------------

* Bản quyền thuộc về Báo Đại biểu Nhân dân. Mọi hình thức sao chép đều phải dẫn nguồn.

ĐBND
Ảnh: Duy Thông
Xem tin theo ngày:
KHOA HỌC
08:12 21/10/2019
Cùng với xu hướng chuyển dịch năng lượng tái tạo trên thế giới và những ưu thế vốn của mình, thời gian qua, hàng loạt dự án năng lượng tái tạo đã được đầu tư nhanh chóng vào Việt Nam, cung cấp lượng điện năng không nhỏ cho hệ thống điện quốc gia. Tuy nhiên, thực tế lại phát sinh vướng mắc khi lưới điện tiếp nhận nguồn công suất trên không thể theo kịp tốc độ phát triển quá nhanh của những dự án này.
Quay trở lại đầu trang