ĐỊA PHƯƠNG
Cập nhật 19:32 | 19/11/2019 (GMT+7)
.
Khánh Hòa nâng cao giá trị sản phẩm thủy sản

Hướng đến tăng chuỗi giá trị thủy sản xuất khẩu

07:42 | 04/11/2019
Trong những năm qua, được sự hỗ trợ của các cấp chính quyền, sự chung tay vào cuộc của nhân dân cùng với sự gia tăng nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế về các mặt hàng thủy sản, sản xuất và xuất khẩu thủy sản Khánh Hòa đã có những bước phát triển vượt bậc.

Thiếu bền vững

Nhiều năm trước đây, mô hình hoạt động của ngành thủy sản Khánh Hòa thiếu sự gắn kết chặt chẽ các giai đoạn của toàn bộ chuỗi giá trị từ khai thác, nuôi trồng đến chế biến và phân phối. Chính mô hình ấy đã bộc lộ những hạn chế như chi phí tăng, không kiểm soát hiệu quả, sự bùng phát dịch bệnh, chưa thực sự chủ động nguồn nguyên liệu, giá nguyên liệu biến động mạnh do cạnh tranh trong việc thu mua. Việc giám sát dư lượng kháng sinh có nhiều bất cập; và đặc biệt không thực hiện được truy xuất nguồn gốc sản phẩm - một yêu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng. Điều này đã dẫn tới có những thời điểm tổng sản lượng thủy sản xuất khẩu của Khánh Hòa bị các thị trường trả về là không nhỏ, thậm chí có xu hướng tăng dần. Nguyên nhân chính của những hạn chế trên là do các doanh nghiệp chế biến thủy sản chưa thực sự thiết lập có hiệu quả quan hệ hợp tác với nhà cung ứng trong chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản.

Do có nhiều hạn chế trong việc hợp tác trong ngành thủy sản, nên trước đây công tác tiếp thị các sản phẩm khai thác và nuôi trồng ở Khánh Hòa khá phức tạp. Sản phẩm có thể được ngư dân đem bán tươi sống ở chợ hoặc chuyền qua tay các nhà thu mua (nậu vựa, đại lý) đến các nhà máy chế biến và sau đó được sơ chế hoặc tinh chế để xuất khẩu. Ngư dân thường giữ mối quan hệ lâu dài với những nậu vựa bởi lẽ nậu vựa cung cấp cho họ các yếu tố đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra. Có đến 20% mua trang thiết bị, ngư cụ lưới từ nậu vựa và 50% ngư dân khai thác cho họ; nậu vựa bán trang thiết bị, ngư cụ cho ngư dân; Nậu vựa cho ngư dân vay để trang trải chi phí cho chuyến đi biển, khoản vay này thường không lấy lãi, nhưng tàu phải có nghĩa vụ bán sản phẩm của mình cho nậu vựa đã cho vay tiền, giá này thường thấp hơn giá thị trường khoảng từ 5 - 10%. Mức độ chênh lệch này có thể thấy là cao hơn so với lãi suất vay từ các nguồn chính thức. Mô hình hoạt động này tạo ra sự gắn kết giữa chủ tàu và nậu vựa và mối quan hệ này một khi đã thiết lập thì rất khó bị phá vỡ. Như vậy, người sản xuất bị ép vào thế không nhận được đầy đủ giá trị mà họ tạo ra. Trong lĩnh vực nuôi trồng, 80% người nuôi bán sản phẩm cho nậu vựa, chỉ 10% bán cho nhà máy chế biến và 10% xuất thẳng ra nước ngoài.

Tuy là một tỉnh có khá nhiều cơ sở chế biến thủy sản, nhưng hoạt động thu mua nguyên liệu của các doanh nghiệp phần lớn thông qua hệ thống nậu vựa hoặc đại lý, sản lượng nguyên liệu thu mua trực tiếp được từ ngư dân hay hộ nuôi chiếm tỷ trọng rất thấp. Lý do các doanh nghiệp chế biến chưa thiết lập quan hệ hợp tác dọc với ngư dân hoặc người nuôi nên phải phụ thuộc vào hệ thống nậu vựa. Việc thu mua qua hệ thống này đã làm cho các doanh nghiệp chế biến khó kiểm soát được nguồn gốc nguyên liệu ban đầu, khó thực hiện hệ thống truy xuất nguồn gốc xuất xứ - một yêu cầu ngày càng tăng của khách hàng. Ngoài ra, sự tập trung ngày càng cao trong lĩnh vực xuất khẩu không tránh khỏi tình trạng cạnh tranh không lành mạnh của các doanh nghiệp chế biến trong việc thu mua nguyên liệu, đẩy giá nguyên liệu tăng cao, gây bất lợi cho chính các doanh nghiệp. Chính những điều này đã làm gia tăng những thua thiệt về vị thế cạnh tranh trên toàn chuỗi giá trị thủy sản toàn cầu của Việt Nam nói chung và Khánh Hòa nói riêng. Người sản xuất càng bị ép vào thế không nhận đầy đủ giá trị mà họ sáng tạo, an toàn kinh tế của họ và cộng đồng bị đe dọa. Nói tóm lại, vị thế xuất khẩu không chỉ là vấn đề hiệu quả mà sâu xa hơn đó là biểu hiện của sự kém bền vững. Và như vậy, trong chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản ở Khánh Hòa chưa thiết lập quan hệ hợp tác dọc giữa các doanh nghiệp chế biến với ngư dân.

Ở khía cạnh khác, ông Nguyễn Đình Hậu - đại diện Công ty TNHH Hải sản Bền Vững (Khu Công nghiệp Suối Dầu) nhận định: “Một trong những thách thức lớn nhất đối với hải sản Việt Nam khi bước ra thị trường quốc tế là vệ sinh an toàn thực phẩm; vấn đề này hiện chưa được chú trọng. Đơn cử như việc thu mua sản phẩm cá ngừ đại dương của công ty từ các tàu cá trên địa bàn TP. Nha Trang và các tỉnh lân cận. Hầu hết các tàu cá đều chưa có giấy chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong khi đó, điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm ở các cảng cá cũng chưa được bảo đảm, ngư dân khi cập cảng sử dụng nước sông, nước dưới cảng để rã đá là không bảo đảm vệ sinh. Điều này ảnh hưởng lớn đến nguồn nguyên liệu xuất khẩu của DN, trong khi vấn đề này các nước nhập khẩu rất chú trọng”.


Thu hoạch cá chim nuôi

Hình thành các chuỗi liên kết

Để khắc phục những hạn chế còn tồn tại, Khánh Hòa đã đẩy mạnh mô hình hợp tác trong ngành thủy sản. Điều này đã thúc đẩy việc phát triển các quy định, tiêu chuẩn và hiệp định có liên quan đến thực hành sản xuất tốt (GAP), quản lý sản phẩm tốt (GMP), hiệp định các biện pháp vệ sinh kiểm dịch động thực vật (SPS) và hệ thống giám định phù hợp để bảo đảm phản ứng kịp thời và tuân thủ chất lượng (hay gọi là rào cản kỹ thuật). Thông qua hoạt động này, ngư dân có nhiều cơ hội hơn trong việc tiếp cận thị trường và thông tin để đáp ứng những ràng buộc của thị trường và đổi mới công nghệ. Họ cũng có nhiều hơn điều kiện để tham gia vào thương mại thủy sản theo mô hình liên kết chuỗi nhằm thắt chặt quan hệ giữa các nhà sản xuất và quan hệ giữa các chủ thể trong chuỗi (nhà sản xuất, sơ chế, chế biến, phân phối và bán lẻ) trong chuỗi giá trị thủy sản địa phương và thế giới.

Để chủ động có nguồn nguyên liệu dồi dào, bảo đảm chất lượng đưa vào chế biến cũng như sản phẩm sau chế biến được thị trường chấp nhận và thuận lợi trong việc mở rộng kênh tiêu thụ, ngành thủy sản Khánh Hòa rất quan tâm tới việc bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, giá cả hợp lý. Các doanh nghiệp chế biến thủy sản Khánh Hòa đã từng bước chủ động xây dựng mối liên kết chặt chẽ với người sản xuất ra nguyên liệu, dịch vụ cung cấp thức ăn, dịch vụ thú y, giống… là người đầu tàu của mối liên kết đó trên cở sở đồng thuận giữa người cung cấp nguyên liệu và nhà máy chế biến. Sự đồng thuận đó dựa trên một tiêu chuẩn quốc tế được áp dụng và chứng nhận độc lập để có thể đáp ứng đầy đủ những đòi hỏi của hệ thống truy xuất nguồn gốc xuất xứ, đòi hỏi của thị trường.

Trong hoạt động khai thác thủy sản, địa phương đẩy mạnh liên kết giữa các chủ thuyền theo đối tượng cùng nghề, cùng ngư trường và cùng tự nguyện hợp tác gắn với nhà chế biến, chủ nậu vựa. Qua liên kết này, đã giúp cho ngư dân được học hỏi kinh nghiệm, kỹ thuật của nhau, cung cấp thông tin về ngư trường kịp thời, rút ngắn thời gian đến ngư trường khai thác, kéo dài thời gian bám biển, giảm chi phí sản xuất, giảm thất thoát sau thu hoạch, tự làm hậu cần cho nhau, nắm vững thị trường, chủ động tiêu thụ sản phẩm, tăng hiệu quả kinh tế, đồng thời còn bảo vệ, hỗ trợ ứng cứu lẫn nhau khi xảy ra sự cố trên biển.

Với hoạt động nuôi trồng thủy sản, địa phương đẩy mạnh mô hình liên kết các hộ nuôi theo đối tượng cùng loài (hiệp hội nuôi tôm sú giống, tôm hùm thương phẩm…) và có thể đảm nhận thêm chức năng quản lý các khâu từ đầu vào đến đầu ra gồm nguồn nước, con giống, thức ăn, thuốc thú y thủy sản, môi trường, phòng trừ dịch bệnh, đồng thời thực hiện liên kết tiêu thụ sản phẩm với các doanh nghiệp chế biến. Qua đó, từng bước tạo được sự chủ động và kiểm soát được vùng nuôi, quản lý chất lượng con giống, thức ăn, tăng khả năng phòng dịch, ổn định năng suất nuôi, tăng hiệu quả kinh tế, tạo việc làm ổn định, nâng cao đời sống và duy trì hoạt động thủy sản lâu dài…

Cụ thể hóa các chủ trương

Nhiều ý kiến cho rằng, Khánh Hòa đạt được nhiều kết quả khả quan trên là do chất lượng các mặt hàng thủy sản đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới; môi trường pháp lý cho xuất khẩu ngày một hoàn thiện hơn, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia, công tác điều hành lĩnh vực xuất khẩu cũng năng động, góp phần làm cho hoạt động xuất khẩu chuyển biến tích cực.

Thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp nói chung, ngành thủy sản nói riêng, chế biến thủy sản xuất khẩu Khánh Hòa đã tự nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệ, tiếp cận cách thức quản lý tiên tiến của các nước trong khu vực và thế giới thông qua việc phát huy tiềm năng, thế mạnh của các thành phần kinh tế, đặc biệt là thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ của ngành từng bước được tăng cường để đáp ứng nhu cầu ngày càng khắt khe của thị trường thế giới và cạnh tranh quốc tế, nhiều doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu đã chủ động đầu tư cải thiện điều kiện sản xuất, lắp đặt dây chuyền công nghệ hiện đại đạt tiêu chuẩn ngành và tiêu chuẩn xuất khẩu sang các nước Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ; không ít các cơ sở chế biến trên địa bàn tỉnh đã nhanh chóng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm tiên tiến của thế giới. Những việc làm đó đã và đang tạo ra bước đột phá trong chế biến thủy hải sản xuất khẩu của tỉnh Khánh Hòa.

Với quan điểm xuất khẩu là đòn bẩy, là động lực thúc đẩy sự phát triển của toàn ngành, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã đề ra chủ trương: “Đẩy mạnh xuất khẩu trong đó lấy xuất khẩu thủy sản làm trọng tâm nhằm phát huy và sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng và nguồn nhân lực vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế với tốc độ nhanh, bền vững tiếp tục đưa Khánh Hòa trở thành một trong những tỉnh có nền kinh tế phát triển ở mức cao so với cả nước”.

Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Khánh Hòa trong 5 tháng đầu năm 2019 đạt 189,23 triệu USD, tăng 10,93% so cùng kỳ 2018. Các sản phẩm đã có mặt tại 64 thị trường trên thế giới. Hiện, toàn tỉnh có 44 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu thủy sản được Bộ NN - PTNT cấp chứng nhận tiêu chuẩn ngành, trong đó có nhiều doanh nghiệp lớn như: Công ty TNHH Hải Vương, Công ty Chế biến Xuất khẩu F17, Công ty TNHH Hải Long, Công ty TNHH Thịnh Hưng…

Theo ông Nguyễn Trọng Chánh, Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản Khánh Hòa, kim ngạch xuất khẩu thủy sản trên địa bàn tỉnh có nhiều khởi sắc phần lớn là nhờ thực hiện đầy đủ và kịp thời các chính sách trong lĩnh vực thủy sản đến các ngư dân, hộ nuôi và DN thủy sản trên địa bàn tỉnh. Đồng thời đề xuất UBND tỉnh ban hành các chính sách hỗ trợ đặc thù để thúc đẩy phát triển sản xuất, quảng bá thương hiệu, mở rộng thị trường xuất khẩu. Đơn giản hóa và giải quyết nhanh chóng kịp thời các thủ tục hành chính. Tổ chức đối thoại tháo gỡ những khó khăn vướng mắc và kịp thời giải quyết các đề xuất kiến nghị phù hợp. Đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng tại các cảng cá để thu hút nguồn nguyên liệu từ tàu cá các tỉnh khác. Tổ chức sản xuất khai thác theo tổ đội và liên kết thu mua chế biến theo chuỗi để nâng cao hiệu quả, bảo đảm đời sống ngư dân giúp ngư dân yên tâm vươn khơi bám biển. Đồng thời đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản để đáp ứng nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu. Hỗ trợ, khuyến khích ngư dân áp dụng kỹ thật, khoa học công nghệ vào khai thác và bảo quản sản phẩm để nâng cao chất lượng sản phẩm khai thác.

Anh Hiến
Xem tin theo ngày:
TRAO ĐỔI KINH NGHIỆM
08:13 28/10/2019
Với tư duy cởi mở, chân thành của những người đứng đầu, tỉnh Quảng Ninh luôn đồng hành và đi đến cùng với doanh nghiệp để kiến tạo nên thành công. “Thành công của doanh nghiệp cũng chính là thành công của tỉnh” từ lâu đã trở thành phương châm phục vụ xuyên suốt trong hoạt động thu hút đầu tư, mời gọi doanh nghiệp đến với địa bàn. Chính sự chuyên nghiệp ấy đã khiến Quảng Ninh luôn hấp dẫn, thôi thúc các nhà đầu tư, các tập đoàn lớn “phải tìm hiểu, đầu tư ngay” tại vùng đất giàu tiềm năng này.
Quay trở lại đầu trang