ĐỊA PHƯƠNG
Cập nhật 08:25 | 24/10/2019 (GMT+7)
.
Ngòi Là 2 - Giữ vững niềm tự hào thủy lợi Tuyên Quang

Bài 1: Niềm tự hào công trình thủy nông lớn nhất tỉnh

07:45 | 01/10/2019
Trong cái nắng “rám trái bưởi” của mùa thu, đứng trên cầu công tác của hồ thủy lợi Ngòi Là 2, nhìn tháp cống bê tông ngả màu thời gian, ít ai ngờ rằng công trình này đã 44 năm miệt mài cấp nước cho trên 470ha ruộng 2 vụ. Đây là công trình thủy nông lớn nhất tỉnh Tuyên Quang, có tuổi thọ cao và là công trình duy nhất cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp cho 5 xã, phường thuộc huyện Yên Sơn và thành phố Tuyên Quang.

Nâng cao năng suất cây trồng

Hồ thủy lợi Ngòi Là 2 đã một thời là công trình đại thủy nông làm nên thương hiệu của tỉnh Tuyên Quang trên bản đồ thủy nông toàn quốc. Trải qua gần 45 năm miệt mài tưới mát những cánh đồng huyện Yên Sơn và TP Tuyên Quang, mới đây, hồ Ngòi Là 2 đã được đầu tư nâng cấp nhằm bảo đảm an toàn cho cả vùng hạ lưu rộng lớn. “Rất cần thiết, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay”, đó là khẳng định của chủ đầu tư về tầm quan trọng của dự án. Nhưng từ những điều mắt thấy, tai nghe trên công trình thủy lợi này cho thấy còn không ít vấn đề khiến dư luận băn khoăn…

Từng là người đứng đầu Phòng Thủy lợi (thuộc Sở NN - PTNT tỉnh Tuyên Quang) và cũng là Chủ nhiệm thiết kế công trình hồ Ngòi Là 2, đã 80 tuổi, nhưng ông Lê Đại Chất vẫn giữ được phong thái tinh anh, trí tuệ minh mẫn. Hồi tưởng lại những ngày đất nước còn gian khổ, giọng ông Chất vẫn sang sảng khi dẫn lời dạy của Bác Hồ: “... Nhiệm vụ của chúng ta là làm cho đất với nước điều hòa với nhau, để nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Rồi ông bảo, lời hiệu triệu ấy đã tạo phong trào làm thủy lợi từ các tỉnh miền xuôi lan lên miền ngược vào những thập kỷ 60, 70 của thế kỷ trước. “Để cho đất, nước điều hòa, nhóm liên ngành tổ chức khảo sát và nhóm chúng tôi tiến hành đo vẽ thiết kế công trình, tổ chức xây dựng hồ Ngòi Là 2 vào năm 1973”, ông Chất bồi hồi nhớ lại.

Với những người thuộc thế hệ ông Lê Đại Chất, hay trước đó một vài thập niên, thời điểm trước khi Ngòi Là 2 được đưa vào sử dụng ghi dấu những khó khăn chất chồng. Đặc biệt, với tỉnh Tuyên Quang - địa phương có địa hình chia cắt, diện tích gieo trồng lúa nước manh mún thì mỗi hạt thóc được làm ra thấm thía sự quý báu đến nhường nào. Cả tỉnh Tuyên Quang tính ra chỉ duy nhất khu vực các xã Kim Phú, Trung Môn (huyện Yên Sơn), Ỷ La, Hưng Thành và Tân Hà (TP Tuyên Quang) là liền kề, để có thể hình thành một cánh đồng lớn (trên 500ha). Cụ Lê Văn Chiến, nguyên Chủ nhiệm HTX Ỷ La (TP Tuyên Quang), nay đã ở tuổi 93 nhưng còn khá minh mẫn kể lại: Vào thời điểm những năm 70 của thế kỷ trước, xã Ỷ La có 3.617 hộ dân nhưng có tới 40% hộ thiếu đói. Tiếng là có nhiều diện tích ruộng tương đối bằng phẳng nhưng nơi đây lại thiếu nguồn nước tưới nên bà con chỉ cấy được vụ lúa mùa, còn vụ xuân ruộng bỏ trống dẫn đến thiếu lương thực triền miên.

Ngày ấy chưa có công trình thủy lợi, nước phục vụ sinh hoạt còn khó khăn lấy đâu ra nước tưới tiêu cho đồng ruộng. Kể từ khi công trình hồ thủy lợi Ngòi Là được đưa vào sử dụng, đồng ruộng Ỷ La được mở rộng và hầu hết diện tích cấy cả 2 vụ lúa. Có nước từ hồ Ngòi Là cái đói, cái nghèo của người dân Ỷ La được đẩy xa dần qua từng năm. “Ngoài cấp nước cho đồng ruộng, công trình còn bổ sung nguồn nước sinh hoạt, dẫu ngày ấy mọi nhà đều dùng nước giếng nhưng giếng không phải đào sâu như trước kia. Đáng mừng hơn cả là khi có nguồn nước tưới ổn định, đất được điều hòa, diện tích cấy lúa được mở rộng và năng suất cây trồng tăng lên rõ rệt”, cụ Lê Văn Chiến kể lại.

Bản đồ công trình thủy lợi hồ Ngòi Là 2 Ảnh: Phong Nam

Dấu ấn về công tác quản lý, khai thác

Chị Phạm Thị Hoa, nguyên Trưởng ban Quản lý công trình thủy lợi hồ Ngói Là 2 cho biết: So với các công trình hồ chứa nước thủy lợi khác, hồ Ngòi Là 2 được coi là “chị cả”. Chính vì vậy, khi đưa vào sử dụng được thực hiện rất nghiêm ngặt theo quy trình vận hành khai thác và quản lý bảo vệ. Đây cũng là công trình thủy lợi trọng điểm của tỉnh nên được chọn làm mô hình để triển khai các công trình ở cấp huyện (công trình tưới liên xã) và cấp xã do HTX quản lý (công trình tưới trên địa bàn xã). Theo cách làm trên, trong hạch toán thu thủy lợi phí được trích 20% tổng thu đưa vào quỹ lương, 80% chi cho công tác duy tu, sửa chữa, bảo dưỡng công trình và thực hiện kiên cố hóa kênh mương. Từ mô hình khai thác hiệu quả này, năm 1998, tỉnh Tuyên Quang đã lấy hồ thủy lợi Ngòi Là 2 làm khởi điểm cho chương trình kiên cố hóa kênh mương và trở thành địa phương đứng đầu cả nước về cứng hóa kênh mương thủy lợi.

Là người kế nhiệm chị Hoa trong vai trò Trưởng ban Quản lý hồ Ngòi Là 2, chị Nguyễn Thị Thành nhấn mạnh: Do được quan tâm chỉ đạo sát sao của tỉnh, cán bộ Ban quản lý công trình cũng có nhiều người được trưởng thành từ đây. “Với cá nhân tôi là kỹ sư thủy lợi lâu nhất, gắn bó cả cuộc đời công tác với công trình. Cũng vì thế, trong công tác bảo vệ tôi lắm rõ từng eo, ngách của lòng hồ Ngòi Là 2”, chị Thành chia sẻ. Đồng thời, cho biết: Thời điểm các chị là Trưởng ban Quản lý hồ, các khâu quản lý, vận hành, khai thác được phối hợp hết sức chặt chẽ. Hàng tháng, hàng quý, cán bộ trong Ban Quản lý công trình đều phân công kiểm tra, bảo vệ diện tích lòng hồ. Những trường hợp hộ dân xâm lấn diện tích đều được nhắc nhở trả lại diện tích nguyên trạng của hồ. Trường hợp đổ rác, đổ chất thải xuống hồ, nhân viên Ban vào làm việc ngay với chính quyền địa phương yêu cầu hộ vi phạm phải tiến hành thu dọn. Có trường hợp trang trại của một gia đình cán bộ tỉnh khi san ủi mặt bằng làm đất đá lấn xuống bờ hồ, chúng tôi đã kiên quyết yêu cầu gia đình phải thuê máy xúc chuyển hết phần đất lấn để trả lại nguyên trạng theo bản đồ.

Anh Phạm Văn Chiến, nguyên Trưởng thôn 10, xã Ỷ La, thành viên của HTX Ỷ La đã từng tham gia điều tiết nước từ kênh nhánh (N2) về địa bàn xã trong thời gian khá dài. Theo anh Chiến, nhờ quy trình khai thác nguồn nước của Ban Quản lý chặt chẽ, nên tổ thủy lợi Ỷ La cũng như các tổ thủy lợi của các HTX hưởng lợi từ công trình luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công tác khai thác và bảo vệ. Không chỉ đơn thuần là điều tiết nước theo lịch, khi nước cấp về kênh nhánh, ở từng tuyến mương phải có rọ chắn rác và thường xuyên dọn để tránh tình trạng rác chặn nước làm tràn bờ gây lãng phí nước. Trước khi vào vụ sản xuất, các HTX còn vận động bà con nạo vét kênh mương để khơi thông dòng chảy và phát dọn cây cối hai bên bờ mương. 

DUY HÙNG - TUẤN NGUYÊN
Xem tin theo ngày:
TRAO ĐỔI KINH NGHIỆM
08:45 12/09/2019
Với định hướng phát triển ngành chăn nuôi bền vững, Đồng Nai chú trọng các hình thức liên kết như: Liên kết vùng chăn nuôi, sản xuất với thị trường; liên kết các cơ sở sản xuất thịt xuất khẩu và cả liên kết chăn nuôi với trồng trọt.
Quay trở lại đầu trang