ĐỊA PHƯƠNG
Cập nhật 23:15 | 16/06/2019 (GMT+7)
.
Kiên Giang: Tăng trưởng xanh để ứng phó với biến đổi khí hậu

Nền tảng phát triển bền vững

07:56 | 30/05/2019
Theo định nghĩa quốc gia, tăng trưởng xanh là sự tăng trưởng dựa trên quá trình thay đổi mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế nhằm tận dụng lợi thế so sánh, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế góp phần tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách bền vững.

Xanh hóa từ quan điểm chỉ đạo

Mục tiêu của chiến lược thúc đẩy tăng trưởng xanh là làm giàu vốn tự nhiên, giảm thiểu ô nhiễm môi trường trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển kinh tế bền vững. Thực hiện Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25.9.2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh; Quyết định số 403/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 20.3.2014 phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014 - 2020, Ủy ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang đã ban hành Kế hoạch số 95/KH-UBND ngày 11.5.2018 hành động tăng trưởng xanh tỉnh Kiên Giang đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.


Kiên Giang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ vào sản xuất Nguồn: ITN

Kế hoạch Hành động tăng trưởng xanh xác định chủ trương các phương án và hành động thông qua quan điểm chỉ đạo cũng như kế hoạch tăng trưởng xanh của tỉnh được thể hiện rõ trong 4 nội dung: Tăng trưởng xanh là nội dung cơ bản không thể tách rời trong các chủ trương và định hướng phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững của Kiên Giang; tăng trưởng xanh được thực hiện bởi con người và vì con người, góp phần tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, xây dựng lối sống thân thiện với môi trường và tiêu dùng bền vững; tăng trưởng xanh gắn liền với chuyển đổi mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế, đưa kinh tế Kiên Giang từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu và các hoạt động tăng trưởng xanh của tỉnh phải bảo đảm đạt được sự kết hợp giữa yêu cầu trước mắt với lợi ích lâu dài, với sự tham gia của các bên liên quan, bảo đảm tính khả thi về nguồn lực và thời gian, bảo đảm khả năng kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện.

Tỉnh Kiên Giang đặt mục tiêu cụ thể đến năm 2020, giảm cường độ phát thải khí nhà kính so với mức phát triển bình thường là 3,3% tương đương 730 nghìn tấn CO2. Đến năm 2025 giảm cường độ phát thải khí nhà kính so với mức phát triển bình thường là 21,2% tương đương 5,5 triệu tấn CO2, trong đó mức giảm tự nguyện khoảng 9,1% và 12,1% còn lại là mức phấn đấu khi có thêm hỗ trợ quốc gia và quốc tế. Hoạt động sản xuất xanh hay còn gọi là xanh hóa sản xuất đặt ra vấn đề phải rà soát, điều chỉnh những quy hoạch hiện có, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên, khuyến khích phát triển công, nông nghiệp xanh với cơ cấu ngành nghề, công nghệ, thiết bị bảo đảm nguyên tắc cải thiện môi trường, đầu tư phát triển nguồn vốn tự nhiên...

Để thực hiện được các mục tiêu này, tỉnh Kiên Giang đã đề ra nhiều giải pháp, trong đó tiếp tục rà soát các văn bản quy phạm pháp luật, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đã được ban hành về tăng trưởng xanh, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực phục vụ thực hiện chiến lược bền vững ở cấp huyện và xã.

Mục tiêu đến năm 2020, Kiên Giang duy trì 100% khu công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường; 80% khu công nghiệp, cụm công nghiệp, 50% làng nghề có hệ thống thu gom và xử lý chất thải rắn đạt yêu cầu. Giai đoạn 2017 - 2020, tỉnh Kiên Giang đầu tư tăng trưởng xanh là 12.223,98 tỷ đồng; Giai đoạn 2021 - 2030 mức đầu tư là 67.983,55 tỷ đồng.

… đến kế hoạch hành động

Theo chuyên gia UNEP (Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc), sản xuất sạch hơn là việc áp dụng liên tục chiến lược phòng ngừa tổng hợp về môi trường vào các quá trình sản xuất, sản phẩm dịch vụ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất giảm thiểu rủi ro cho con người và môi trường. Hay nói cách khác, sản xuất sạch hơn là một phương thức tiếp cận trong sản xuất nhằm giúp các doanh nghiệp, tăng hiệu suất kinh tế và giảm ô nhiễm môi trường.

Trước đó, tỉnh Kiên Giang ưu tiên đầu tư nâng cấp và xây dựng các tuyến giao thông trọng điểm theo các tiêu chuẩn bền vững, chú trọng tăng cường giao thông thủy, đặc biệt phục vụ cho mục đích phát triển du lịch sinh thái và vận chuyển hàng hóa.

Trong phát triển nông nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, ứng dụng phương pháp canh tác tiết kiệm tài nguyên, nhất là tài nguyên đất và nước để giảm phát thải khí nhà kính trong ngành nông nghiệp. Trước tình hình đó, tỉnh Kiên Giang đã có chủ trương đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mới kết hợp với các phương pháp chọn giống truyền thống nhằm chọn tạo các giống lúa có khả năng chịu mặn từ bằng đến trên 4‰, chịu hạn 15 - 20 ngày để thích ứng với thổ nhưỡng trên địa các huyện vùng ven.

Ngoài chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điền kiện đất đai, khí hậu các công tác thủy lợi như xây dựng hệ thống quản lý nước để ngăn chặn xói mòn, áp dụng biện pháp tưới tiêu tiết kiệm nước và hạn chế chất bảo vệ thực vật hóa học cũng được tỉnh tuyên truyền, thực hiện mạnh mẽ.

Nhằm bảo đảm cung cấp nước cho nhân dân, tỉnh Kiên Giang đã chủ động tích nước an toàn vào các hồ chứa; làm mới, sửa chữa, nâng cấp 66 đập, trong đó, gia cố 36 đập, đắp mới 30 đập đất ngăn mặn; lắp đặt tuyến ống nước thô để truyền tải nước giữa các xã với nhau.

Tăng trưởng xanh đồng nghĩa với hiện đại hóa công nghệ theo hướng giảm thiểu tiêu thụ nhiên liệu, tài nguyên, áp dụng các công nghệ các-bon thấp trong các ngành công nghiệp trọng điểm, hạn chế sử dụng nhiên liệu hóa thạch bằng cách sử dụng các máy móc chạy điện, tăng cường sử dụng nhiên liệu sinh học nhằm giảm lượng phát thải khí nhà kính. Cuối năm 2018, Đoàn công tác của Viện Năng lượng - Bộ Công thương đã khảo sát, nghiên cứu phát triển nhiên liệu khí thiên nhiên hóa lỏng LNG (liquefied natural gas) tại Kiên Giang. LNG là loại nhiên liệu sạch, ít tác động tới môi trường, hứa hẹn sẽ mang lại nhiều lợi ích cho quốc gia nói chung và cho nhân dân tỉnh Kiên Giang nói riêng.

Mặt khác, việc tăng diện tích rừng để mở rộng bể hấp thụ các-bon, thay thế diện tích rừng bị mất do quá trình khai thác và phát triển kinh tế, đặc biệt ở các vùng ven biển gắn với sinh kế của người dân được tỉnh Kiên Giang triển khai quyết liệt và hiệu quả. Từ báo cáo của Tỉnh ủy Kiên Giang cho thấy, qua hơn hai năm thực hiện Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12.01.2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Kiên Giang đã có những chuyển biến tích cực.

Diện tích rừng của tỉnh Kiên Giang được giữ vững ổn định, với tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 79.861ha. Theo số liệu thống kê đến giữa năm 2018, tổng diện tích rừng trồng mới và sau khai thác được 2.175ha, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng 597ha, trồng trên 500.000 cây phân tán các loại.

Việc có sự lựa chọn trong chiến lược trồng mới và tăng độ che phủ rừng đặc biệt là các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ tạo vùng đệm xung quanh các khu bảo tồn đã quản lý rừng có hiệu quả hơn. Mặt khác, việc xây dựng cơ sở hạ tầng phải đảm bảo không gây ảnh hưởng lớn đến các khu bảo tồn tự nhiên trọng yếu, không tác động tiêu cực các loài động thực vật đang bị đe dọa; sử dụng các phương pháp khai thác và vận chuyển gây tác động thấp nhất đến môi trường xung quanh.

Ngoài sản xuất xanh, xây dựng lối sống thân thiện với môi trường, tạo nhiều việc làm xanh từ các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; hoàn thiện cơ sở hạ tầng đô thị và nông thôn; cải thiện môi trường sống và phong cách sinh hoạt của cư dân cũng góp phần không nhỏ vào chiến lược tăng trưởng xanh. Việc thực hiện lối sống xanh là cải thiện và làm cho đời sống của con người ngày càng hòa hợp hơn với môi trường tự nhiên. Lối sống xanh được thể hiện qua việc bảo đảm tiêu dùng bền vững, thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn, bảo đảm giao thông xanh, xanh hóa đô thị và cải thiện nạn ô nhiễm.

Lê Phượng
Xem tin theo ngày:
TRAO ĐỔI KINH NGHIỆM
08:09 06/04/2016
Phát triển mô hình Hợp tác xã (HTX) phù hợp với nhu cầu thực tế của nông dân, lao động nghèo, đặc biệt càng phù hợp hơn đối với những địa phương có khu vực nông thôn miền núi. Với đóng góp vào ngân sách chung của tỉnh mỗi năm khoảng 0,4%, Hòa Bình mong muốn nhân rộng và phát triển mô hình kinh tế nòng cốt này. Tuy nhiên, làm thế nào để HTX thực sự “lột xác” và phát triển bền vững là bài toán khó, phải “gỡ” nhiều “nút thắt”...
Quay trở lại đầu trang