ĐỊA PHƯƠNG
Cập nhật 12:42 | 27/05/2019 (GMT+7)
.
Tái cơ cấu nông nghiệp tỉnh Yên Bái

Bài 1: Nông nghiệp trên đà khởi sắc

08:12 | 12/03/2019
Những năm gần đây, ở Yên Bái đã hình thành nhiều vùng sản xuất chuyên canh hàng hóa khối lượng lớn như: Lúa chất lượng cao, chè, quế, măng tre, sơn tra… và nhiều mô hình chăn nuôi đem lại hiệu quả kinh tế cao. Đặc biệt, người dân đã thay đổi tư duy sản xuất theo hướng liên kết, gắn nguyên liệu với chế biến và tiêu thụ. Đó là minh chứng cho nền nông nghiệp đang trên đà khởi sắc.

Từ những con số vàng…

 Với quan điểm phải tìm lối ra chắc chắn cho từng sản phẩm chủ lực, nông nghiệp Yên Bái đang chuyển mình và là minh chứng cho chiến lược tái cơ cấu ngành ngày càng phù hợp với thực tiễn. Dẫu vậy, khi hội nhập và liên kết vùng đang nổi lên như một xu thế tất yếu, đặc biệt yêu cầu của thị trường ngày càng khắt khe, bài toán đặt ra là tỉnh phải có chiến lược phát triển bài bản và thật cụ thể, bảo đảm đời sống người dân tốt dần lên.

Với tỉnh miền núi còn nghèo và nhiều khó khăn như Yên Bái, việc tái cơ cấu nông nghiệp chưa bao giờ là chuyện dễ dàng. Nhớ lại thời điểm mới bắt tay triển khai Đề án Tái cơ cấu nông nghiệp (năm 2015), Yên Bái lọt ngay vào top đầu các tỉnh phía Bắc có tốc độ tăng trưởng cao từ nông nghiệp. Song, chỉ 2 năm liên tiếp sau đó, thiên tai, lũ lụt lại kéo Yên Bái trở lại vạch xuất phát với thử thách đầy gian nan. Ruộng đồng, hoa màu ngập trắng, hạ tầng giao thông nông thôn, giao thông nội đồng gần như bị tê liệt. Thế nhưng, với quyết tâm cao của hệ thống chính trị cùng sự nỗ lực của người dân, Yên Bái đã nhanh chóng phục hồi nền kinh tế, nhất là sản xuất nông nghiệp.

Thật đáng mừng, sau những khó khăn đó đến nay, nền nông nghiệp Yên Bái đã có tốc độ tăng tổng sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản 4,2%; giá trị sản xuất đạt gần 7.000 tỷ đồng, đứng thứ 7/14 tỉnh miền núi phía Bắc. Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm sản của tỉnh đạt gần 50 triệu USD, tỷ lệ hộ nghèo giảm 4,29% so với năm 2017. Tổng diện tích gieo trồng lúa 2 vụ đạt 42.000ha. Đặc biệt, đã hình thành một số vùng sản xuất hàng hóa như: Vùng lúa hàng hóa chất lượng cao trên 2.500ha, vùng ngô hàng hóa 15.000ha, vùng chè 11.000ha, vùng tre măng Bát độ trên 2.600ha, vùng quế 56.000ha, vùng cây nguyên liệu giấy trên 60.000ha...


Lãnh đạo tỉnh Yên Bái thăm mô hình HTX nuôi cá lồng tại hồ Thác Bà, xã Thịnh Hưng, huyện Yên Bình

Những con số trên dường như đã lột tả được phần nào diện mạo một nền nông nghiệp đang trên đà khởi sắc. Theo Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Đỗ Đức Duy, 3 năm kể từ khi triển khai Đề án Tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng NTM, Yên Bái đã nhiều lần đánh giá và điều chỉnh lại Đề án để việc triển khai đạt hiệu quả hơn. Theo đó, tỉnh đã xây dựng hệ thống quy hoạch gắn với lợi thế từng vùng. Đến hết năm 2018, toàn tỉnh đã có 39 đề án hỗ trợ phát triển nông nghiệp, 31 đề án hỗ trợ phát triển nông thôn. Và cách làm của Yên Bái là phát triển nông nghiệp theo hướng bảo đảm lương thực, xóa đói giảm nghèo ở vùng cao; phát triển hàng hóa quy mô lớn ở vùng thấp. Bên cạnh đó, tỉnh cũng ban hành nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp.

“Nếu như trước kia, chỉ hỗ trợ cho hộ gia đình thì nay, chính sách có phạm vị rộng hơn là nhóm hộ, tổ hợp tác, hợp tác xã. Đối với các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp được ưu đãi về đơn giá thuê đất, thuê mặt nước; được hỗ trợ 50% kinh phí bồi thường giải phóng mặt bằng; được hỗ trợ đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng về giao thông, điện nước… Vì vậy đến nay, nhiều doanh nghiệp lớn đã đầu tư phát triển nông nghiệp Yên Bái như: Các nhà đầu tư từ Hàn Quốc, Nhật Bản hay các tập đoàn kinh tế lớn trong nước Vingroup, TH True-milk, Hòa Phát với các dự án trồng rau an toàn, trồng cỏ nuôi bò sữa, nuôi lợn công nghệ cao...” - Chủ tịch UBND tỉnh Đỗ Đức Duy chia sẻ.

…Đến tư duy, cách làm mới

 Yên Bái đưa ra mục tiêu đến hết năm 2020, tốc độ tăng trưởng sản phẩm ngành nông nghiệp đạt 4,6%/năm; cơ cấu sản xuất nông nghiệp chiếm 67%, lâm nghiệp 28%, thủy sản 5%. Góp phần tăng GDP bình quân đầu người của Yên Bái khu vực nông thôn tăng 1,5 lần so với năm 2015; giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân mỗi năm 2%. Đồng thời, đẩy mạnh tập trung sản xuất theo các vùng chuyên canh tập trung như lúa chất lượng cao, cam, bưởi, quế, chè…

Tân Thịnh là 1 trong 8 xã vùng sâu của huyện Văn Chấn, hiện có gần 50 hộ đồng bào Tày giàu lên nhờ trồng chè. Chị Lò Thị Châu (thôn 14) cho biết: Trước đây gia đình tôi trồng bằng giống chè trung du và hái thủ công nên năng suất không cao. Từ khi tỉnh có chủ trương vận động nông dân cải tạo thay thế giống chè cũ bằng giống chè lai LDP, gia đình đã mạnh dạn cải tạo gần 1ha và đầu tư 2 máy hái chè. Đến nay, diện tích chè cho năng suất trung bình 30 tấn/ha, trừ hết chi phí, đem lại thu nhập cho gia đình chị gần 100 triệu đồng. 

Chủ tịch UBND huyện Văn Chấn Mai Mộng Tuân là người trưởng thành từ ngành nông nghiệp nên say sưa với “cây, con”. Ông phấn khởi cho biết, việc triển khai các đề án, chính sách về tái cơ cấu ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện đã tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản phát triển từng bước theo định hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao giá trị và thu nhập cho người dân, tạo diện mạo kinh tế nông nghiệp, nông thôn ngày càng khởi sắc. Nhất là việc đổi mới tư duy, thúc đẩy sự chủ động, sáng tạo của người dân trong tăng gia sản xuất, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, vươn lên thoát nghèo.

Ông Tuân cho rằng, muốn nông nghiệp phát triển trước tiên phải thay đổi nhận thức làm nông nghiệp. Nhận thức lạc hậu thì làm gì cũng khó. Đối với Yên Bái, người dân đã ý thức được rằng nông nghiệp là trụ cột của nền kinh tế. Nếu như trước kia, người dân ở vùng cao sản xuất theo hướng tự cung, tự cấp, mạnh ai người ấy làm, giờ đây đã biết liên kết với nhau, ứng dụng khoa học công nghệ và sáng tạo trong việc xen canh. Qua đó, đã hình thành những vùng sản xuất quy mô lớn, có giá trị và năng suất cao. 

Hiện nay, không chỉ Văn Chấn mà ở nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh, người dân đã ăn nên làm ra nhờ sản xuất nông nghiệp đúng cách. Đơn cử như, nghề nuôi cá lồng trên lòng hồ Thác Bà đang đem lại hiệu quả kinh tế cao cho bà con ở huyện Yên Bình. Với nhiều chính sách hỗ trợ phát triển chăn nuôi thủy sản của tỉnh, đến nay, Yên Bình đã có trên 500 lồng nuôi cá, 130ha diện tích quây lưới nuôi cá trên các eo ngách hồ Thác Bà. Trung bình, sản lượng cá thịt đạt 4 - 5 tạ cá/lồng, cho thu nhập từ 22 - 27 triệu đồng/lồng. Nhờ nuôi cá, nhiều hộ dân đã có thu nhập, thoát nghèo; đồng thời có thêm nhiều việc làm cho lao động địa phương.

TRỌNG HIẾU
Xem tin theo ngày:
TRAO ĐỔI KINH NGHIỆM
08:09 06/04/2016
Phát triển mô hình Hợp tác xã (HTX) phù hợp với nhu cầu thực tế của nông dân, lao động nghèo, đặc biệt càng phù hợp hơn đối với những địa phương có khu vực nông thôn miền núi. Với đóng góp vào ngân sách chung của tỉnh mỗi năm khoảng 0,4%, Hòa Bình mong muốn nhân rộng và phát triển mô hình kinh tế nòng cốt này. Tuy nhiên, làm thế nào để HTX thực sự “lột xác” và phát triển bền vững là bài toán khó, phải “gỡ” nhiều “nút thắt”...
Quay trở lại đầu trang