PHÁP LUẬT
Cập nhật 07:02 | 29/05/2020 (GMT+7)
.
Sổ tay

Quyền được tiếp cận dịch vụ

08:04 | 23/05/2020
Bảo đảm quyền được tiếp cập dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS của mọi đối tượng khác nhau là một trong những chính sách mới được đưa ra tại Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống HIV/AIDS.

Từ giai đoạn 2013 đến nay, Việt Nam chỉ còn 2 nhà tài trợ chính trong hoạt động phòng chống HIV/AIDS đó là PEPFAR (Kế hoạch cứu trợ khẩn cấp của Tổng thống Hoa Kỳ là một sáng kiến ​​của Chính phủ Hoa Kỳ nhằm giải quyết đại dịch HIV/AIDS toàn cầu) và Quỹ Toàn cầu. Quy mô và phương thức hỗ trợ cũng đã có nhiều thay đổi, nếu như trước đây các nhà tài trợ hỗ trợ kinh phí thì nay đã chuyển dần sang hỗ trợ kỹ thuật. Trong khi đó nguồn lực trong nước vẫn gặp nhiều khó khăn, nên kinh phí phân bổ cho công tác phòng, chống HIV/AIDS không bảo đảm triển khai toàn diện các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS.

Mặt khác, Luật Phòng, chống HIV/AIDS chưa có chính sách quy định hỗ trợ cho một số đối tượng khó tiếp cận với dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS. Chẳng hạn, người nhiễm HIV trong các trại giam, nhà tạm giam, họ là đối tượng không được tham gia bảo hiểm y tế, nhưng điều trị HIV/AIDS dựa vào nguồn bảo hiểm y tế. Bên cạnh đó, việc điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con cần phải có sẵn thuốc để điều trị. Tuy nhiên do số lượng nhu cầu điều trị lây truyền HIV từ mẹ sang con ở Việt Nam ít, chỉ khoảng 2.300 phụ nữ mang thai/năm, trong đó có khoảng 60% đã được điều trị ARV. Chính vì thế, nhu cầu điều trị mới chỉ có khoảng 600 - 700 người/năm, nên các doanh nghiệp không tổ chức kinh doanh thuốc này trên thị trường, các bệnh viện cũng không biết được số lượng phụ nữ mang thai nhiễm HIV cần điều trị tại cơ sở mình, nên không mua thuốc về dự trữ sẵn sàng, hơn nữa các bệnh viện tự chủ, nên họ cần hoạch toán để đảm bảo lợi nhuận duy trì nhân lực. Vì vậy, nếu thuốc không sẵn có sẽ không triển khai điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con.

Liên quan đến vấn đề này, Bộ Y tế cho rằng, cần có cơ chế cấp thuốc miễn phí để hàng năm Bộ Y tế chủ động được nguồn thuốc và cấp cho bệnh nhân khi cần thiết. Tình huống này cũng tương tự thuốc điều trị ARV cho trẻ em, hiện nay số trẻ em đang điều trị ARV là 4.100 cháu, con số này sẽ giảm dần do các cháu sẽ chuyển dần sang phác đồ người lớn khi trưởng thành, số trẻ em nhiễm mới hằng năm giảm dần. Do vậy, các đơn vị cung cấp thuốc Việt Nam cũng không kinh doanh mặt hàng này do số lượng ít, ngoài ra trước đây thuốc này đều do các nhà tài trợ cung cấp thông qua mua thuốc từ quốc tế.

Chính vì thế, chính sách này tập trung vào các cách tiếp cận khác nhau, như Nhà nước đảm bảo nguồn lực để bảo đảm chủ động cung cấp dịch vụ xét nghiệm HIV cho phụ nữ mang thai, chăm sóc, điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con, cho nhóm yếu thế như phụ nữ mang thai nhiễm HIV, trẻ em sinh ra từ mẹ nhiễm HIV, người nhiễm HIV trong các trại giam, trại tạm giam không tham gia bảo hiểm y tế.

Theo tính toán của Bộ Y tế, biện pháp này không quá tốn nguồn lực của Nhà nước, chẳng hạn mỗi năm điều trị cho khoảng 5.000 - 7.000 người nhiễm HIV trong các trại giam với mức chi phí khoảng 3 triệu đồng/năm/người, tổng chi phí điều trị cho người nhiễm HIV trong trại giam khoảng 15 -  21 tỷ đồng/năm, nhưng nếu không triển khai hoạt động điều trị cho người nhiễm HIV trong trại giam, trại tạm giam thì người nhiễm HIV sẽ bị mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội; đặc biệt làm gia tăng nguy cơ lây nhiễm lao cho phạm nhân khác và cán bộ công an, nhân viên trại giam. Chưa kể, khi các phạm nhân mắc bệnh khác cũng cần phải đưa họ đến bệnh viện, lúc này các chi phí bệnh viện, chi phí bảo vệ sẽ tăng lên nhiều lần, đặc biệt các hệ lụy khác liên quan đến phạm nhân tử vong.

Nguyễn Minh
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang