PHÁP LUẬT
Cập nhật 19:40 | 02/06/2020 (GMT+7)
.

Gỡ khó cho hoạt động tương trợ tư pháp

07:46 | 15/02/2020
Hoạt động rà soát còn ít, chưa thiết lập, duy trì được đầu mối liên hệ với phía đối tác; tỷ lệ hồ sơ dân sự ủy thác được phản hồi thấp là những vấn đề đặt ra sau 10 năm thực hiện Luật Tương trợ tư pháp.

Chưa thiết lập, duy trì được đầu mối

Cho đến nay, Việt Nam đã có 17 hiệp định/thỏa thuận song phương về tương trợ tư pháp với các nước/vùng lãnh thổ. Ngoài ra, trong khuôn khổ đa phương, Việt Nam đã gia nhập Công ước tống đạt và chuẩn bị gia nhập Công ước thu thập chứng cứ. Tuy nhiên, thực tiễn 10 năm thực hiện Luật Tương trợ tư pháp (Luật) cho thấy, hoạt động rà soát, định kỳ đánh giá kết quả thực hiện các hiệp định về tương trợ tư pháp mới chỉ được thực hiện bước đầu với số lượng ít. Hiện nay, hoạt động này mới được thực hiện bước đầu với Lào, Campuchia và Đài Loan, Trung Quốc.

Bên cạnh đó, các cơ quan đầu mối của phía Việt Nam trong các Hiệp định cũng chưa thiết lập và duy trì được mối liên hệ với phía đối tác để hỗ trợ cho quá thực thi Hiệp định. Trong số 17 Hiệp định/Thỏa thuận song phương, hiện nay Bộ Tư pháp mới giữ liện hệ trực tiếp và đều đặn với đơn vị đầu mối của Đài Loan, Trung Quốc hai bên đã tổ chức 9 hội nghị thường niên.

Đáng chú ý, các nội dung về dân sự trong một số hiệp định mà Việt Nam và nước ngoài đã ký từ những năm 80 của thế kỷ trước không chỉ bao gồm cả dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người bị kết án mà bản thân các quy định về dân sự cũng rộng hơn so với các hiệp định được ký kết gần đây. Cụ thể, trong khi các hiệp định ký mới của Việt Nam cũng như Luật chỉ quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc cũng như trình tự, thủ tục như: Phạm vi, cách thức liên hệ, ngôn ngữ, chi phí, miễn hợp pháp hóa, điều kiện từ chối tương trợ... thì phần về dân sự của các hiệp định trước đây ngoài quy định chung còn chứa cả các quy định về chọn luật áp dụng về kết hôn, ly hôn, quan hệ pháp lý nhân thân và tài sản giữa vợ và chồng, nuôi con nuôi, giám hộ, về hợp đồng và trách nhiệm do gây thiệt hại... 

Chính vì vậy, hiệu quả thực hiện tương trợ tư pháp với từng nước có điều ước quốc tế cũng không đồng đều, nội dung trong hiệp định cũ cũng có nhiều quy định không phù hợp với xu hướng hiện nay về việc đàm phán điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp nghiêng về trình tự, thủ tục phối hợp thực hiện hơn là quy định về áp dụng pháp luật.  

20% hồ sơ không có phản hồi

Sau hơn 10 năm thực hiện Luật, số lượt công văn công hàm trung bình khoảng 500 - 600 lượt/năm từ trước khi có luật thì đến nay số này đã tăng lên đến 6.000 - 7.000 lượt/năm.

Mặc dù, kết quả thực hiện các ủy thác về dân sự đã có những bước tiến nhất định, tỷ lệ yêu cầu có phản hồi đã ngày càng cao nhưng vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thực tiễn, chưa thực hiện đúng các cam kết quốc tế. Theo thống kê của Bộ Tư pháp, tỷ lệ các yêu cầu có kết quả còn thấp (khoảng 20% chưa có kết quả phản hồi) làm ảnh hưởng việc giải quyết các vụ việc có liên quan đến người dân có liên quan số liệu thực tế cho thấy, tại một số nước mặc dù có Hiệp định tương trợ tư pháp từ lâu nhưng kết quả phản hồi không cao, thậm chí không nhận được phản hồi của phía Bạn. Trung Quốc và Pháp là hai ví dụ điển hình cho tình trạng này. Với Pháp, năm 2016 Việt Nam gửi đi 102 yêu cầu, nhận phản hồi 17 yêu cầu (chiếm 16.7%); năm 2017 Việt Nam gửi đi 36 yêu cầu, nhận 1 phản hồi (2.8%); năm 2018 Việt Nam gửi 55 yêu cầu, nhận 4 phản hồi (7.3%). Với Trung Quốc, trong 3 năm từ 2016 đến 2018, Việt Nam gửi đi 160 yêu cầu, mới nhận được phản hồi 68 yêu cầu; trong năm 2016, Việt Nam nhận được 39/52 phản hồi, trong số đó có 10 phản hồi nhận được trong vòng 1 năm, 1 phản hồi nhận được trong vòng 2 năm, 16 phản hồi nhận được trong vòng 3 năm và 6 phản hồi nhận được trong 4 năm; hơn nữa, trong 39 phản hồi này có 8 phản hồi là thực hiện thành công và 31 phản hồi là không thành công.

Trong khi đó, chất lượng hồ sơ dù đã cải thiện nhưng chưa bảo đảm. Tại Việt Nam, nhiều hồ sơ không làm đúng hoặc điền đúng thông tin trong các biểu mẫu được ban hành, có sai sót trong việc dịch thuật hoặc lúng túng trong việc lựa chọn ngôn ngữ tài liệu cần ủy thác; chưa bảo đảm đóng đầy đủ các loại phí và chi phí theo quy định; việc trả kết quả cho phía nước ngoài không được thực hiện kịp thời ngay sau khi có phản hồi. Nhiều hồ sơ Việt Nam tiếp nhận từ nước ngoài cũng không bảo đảm theo quy định của hiệp định được ký kết hoặc Luật: Không bảo đảm về số bộ; không tuân thủ điều kiện về dịch tài liệu; đã hết thời hạn triệu tập đương sự; tên người được tống đạt không được viết bằng tiếng Việt; địa chỉ không đầy đủ, chính xác…

Một trong những nguyên nhân được Bộ Tư pháp đề cập tới để giải trình cho tình trạng này là trong khi hồ sơ ủy thác ngày càng nhiều, tính chất phức tạp hơn nhưng số lượng đội ngũ cán bộ hầu như không được bổ sung; cơ sở vật chất kỹ thuật bố trí cho công tác tương trợ tư pháp vẫn chưa có sự phát triển theo kịp với yêu cầu phát triển của hoạt động này. Hiện, nhiều khâu trong việc xử lý và lưu trữ hồ sơ vẫn được thực hiện thủ công, nhiều hoạt động về quản lý nhà nước về tương trợ tư pháp chưa thực hiện hoặc mới được thực hiện bước đầu như, việc kiểm tra công tác tương trợ tư pháp tại các cơ quan địa phương, cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài, rà soát tình hình thực thi điều ước quốc tế song phương với các nước đối tác…

Phạm Hải
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang