PHÁP LUẬT
Cập nhật 23:46 | 05/06/2020 (GMT+7)
.
Sổ tay

Khó bảo đảm hiệu quả thực thi

08:01 | 04/12/2019
Không thống nhất dẫn đến khó áp dụng, không bảo đảm được hiệu quả thực thi của pháp luật là vấn đề nổi lên xung quanh Luật Phòng, chống ma túy và Luật Xử lý vi phạm hành chính. Điều này cho thấy hoạt động rà soát văn bản trong quá trình xây dựng, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật đóng một vai trò hết sức quan trọng. Hiện, hai luật này đang được Chính phủ giao Bộ Tư pháp, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan sửa đổi, bổ sung.

Không khó để có thể liệt kê sự không thống nhất giữa hai văn bản này. Chẳng hạn, Điều 5, Luật phòng, chống ma túy quy định: Cá nhân, tổ chức nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú, đi lại trên lãnh thổ Việt Nam có trách nhiệm tuân thủ các quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam về phòng, chống ma túy. Vậy nhưng, việc áp dụng các biện pháp xử lý người nước ngoài sử dụng trái phép chất ma túy còn lúng túng. Bởi theo quy định tại Khoản 2, Điều 5, Luật Xử lý vi phạm hành chính thì các biện pháp xử lý hành chính không áp dụng đối với người nước ngoài. Điều này dẫn  đến tình trạng người nước ngoài nghiện ma túy nhưng không có biện pháp xử lý, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Hay Khoản 1, Điều 27, Luật phòng, chống ma túy quy định: Trường hợp người nghiện ma túy không tự nguyện cai nghiện thì áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy bắt buộc tại cộng đồng theo quyết định của Chủ tịch UBND cấp xã, nhưng Luật Xử lý vi phạm hành chính lại chưa quy định nội dung này.

Liên quan đến công tác quản lý hoạt động cai nghiện thì còn bất cập hơn. Cụ thể, Khoản 2, Điều 28, Luật phòng, chống ma túy quy định việc đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được thực hiện theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, nhưng Luật Xử lý vi phạm hành chính lại quy định tòa án nhân dân cấp huyện mới có thẩm quyền áp dụng đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Cũng tại khoản này của Luật quy định thời hạn cai nghiện bắt buộc là 1  - 2 năm nhưng Khoản 2, Điều 95, Luật Xử lý vi phạm hành chính lại quy định thời gian này là 6 tháng - 24 tháng. Và trong khi Điều 33, Luật phòng, chống ma túy quy định về thời gian quản lý sau cai nghiện là 1 - 2 năm, còn Luật Xử lý vi phạm hành chính không quy định về thời gian quản lý sau cai nghiện.

Rắc rối hơn là những trường hợp người đang cai nghiện ma túy nhưng lại phạm tội thì mỗi luật lại quy định một nẻo, làm ảnh hưởng trực tiếp đến công tác phòng, chống, đấu tranh với hoạt động buôn bán ma túy. Cụ thể, Điều 32a, Luật phòng, chống ma túy quy định, người đang cai nghiện ma tuý bắt buộc tại cơ sở cai nghiện mà phạm tội, nếu thời gian bị phạt tù ít hơn thời gian cai nghiện ma túy thì sau khi chấp hành xong hình phạt tù phải tiếp tục cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện bắt buộc; trường hợp phải chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo thì vẫn phải thực hiện cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Trong khi đó, Điều 117, Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định, trường hợp truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội được thực hiện trước hoặc trong thời gian chấp hành biện pháp xử lý hành chính nếu bị tòa án xử phạt tù thì người đó được miễn chấp hành phần thời gian còn lại trong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính; nếu hình phạt được áp dụng không phải là hình phạt tù thì người đó có thể phải tiếp tục chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Đình Khoa
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang