PHÁP LUẬT
Cập nhật 01:15 | 10/12/2019 (GMT+7)
.
Bảo đảm quyền lợi của lao động tại nơi làm việc

Chủ động để tránh xung đột

07:45 | 02/12/2019
Pháp luật về bảo đảm quyền của người lao động có ý nghĩa rất quan trọng đối với người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước trong việc duy trì quan hệ lao động tốt đẹp, bền vững. Nguyên tắc bảo vệ người lao động được pháp luật đưa ra nhằm tạo ra nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội ổn định, ở đây người lao động chính là nguồn lực chủ yếu để sản xuất, phát triển kinh tế, từ đó phát triển xã hội. Thông qua các quy định pháp luật về bảo đảm quyền của người lao động sẽ bảo đảm đời sống cho người lao động, tránh những xung đột giữa các chủ thể trong quan hệ lao động, bảo đảm một thể chế chính trị vững chắc.

Thực thi chưa nghiêm

Một trong những nguyên tắc quan trọng và có ý nghĩa hàng đầu của pháp luật lao động đó là bảo vệ người lao động. Khoản 2, Điều 57 Hiến pháp 2013 quy định sự bình đẳng, bảo vệ người lao động: “Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định”. Trên cơ sở đó, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đều có những quy định để cụ thể hóa nguyên tắc này.

Theo Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thời gian qua, việc thực hiện chính sách, pháp luật bảo đảm, thúc đẩy quyền con người tại Việt Nam được thực hiện khá chặt chẽ. Cơ quan chức năng đã tích cực chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương theo dõi chặt chẽ tình hình lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất và nắm bắt nhu cầu lao động tại các doanh nghiệp; bảo đảm quyền lợi của lao động tại nơi làm việc. Ngoài ra, việc thực thi quy định của pháp luật Việt Nam về quyền của người lao động tại các doanh nghiệp đã được thực hiện đầy đủ, bảo đảm. Các doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động không xảy ra tình trạng lao động bị cưỡng bức, đặc biệt là nhóm lao động có nguy cơ dễ bị cưỡng bức cao như lao động nữ, lao động chưa thành niên, người khuyết tật… Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế như: Nội dung hợp đồng lao động; báo cáo định kỳ về tai nạn lao động; tổ chức thương lượng tập thể; thống kê số lao động làm công việc nặng nhọc… chưa đầy đủ.

Thực tế, thỏa ước lao động tập thể là cơ sở pháp lý nhằm bảo đảm quyền lợi tốt hơn, thúc đẩy việc nâng cao trách nhiệm các bên trong thực hiện quy định của pháp luật. Đồng thời, hạn chế tình trạng tranh chấp lao động, đình công tại các đơn vị, doanh nghiệp. Tuy nhiên quy định này vẫn chưa thực sự đi vào đời sống đa phần thực hiện cho có. Trong đó, việc triển khai các bước thương lượng, ký kết thoả ước lao động tập thể cũng thường diễn ra không đúng theo quy trình, không lấy ý kiến của tập thể người lao động về nội dung của bản thỏa ước lao động tập thể  nên chất lượng của những bản thỏa ước lao động tập thể đó chưa được như kỳ vọng.

Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cung cấp cơ hội việc làm bền vững và an toàn là hết sức cần thiết để đảm bảo phát triển kinh tế và xã hội trong tương lai. Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước, người sử dụng lao động, người lao động cần xây dựng, triển khai và tiếp tục đẩy mạnh văn hóa phòng ngừa.  Bảo đảm chính sách quốc gia phù hợp với các tiêu chuẩn lao động quốc tế có vai trò quan trọng. Cụ thể, Chính sách quốc gia cần tuân thủ đầy đủ Công ước của ILO về Khung thúc đẩy An toàn và Sức khỏe nghề nghiệp, 2006 (Số 187).

­Thúc đẩy thực thi môi trường làm việc

Nhận thức được vai trò của việc xây dựng môi trường làm việc an toàn cho người lao động, mới đây Đoàn Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam đã ban hành kế hoạch về triển khai các nhiệm vụ công đoàn tham gia cải thiện điều kiện và môi trường làm việc, giảm thiểu tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp giai đoạn 2019 - 2023 nhằm khắc phục những hạn chế, tạo sự chuyển biến mạnh về nhận thức và hành động trong việc thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động tại các cấp công đoàn.

Theo đó, tăng cường thông tin giữa Tổng Liên đoàn và các Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố, Công đoàn ngành trung ương, Công đoàn Tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn. Khi có vi phạm pháp luật an toàn, vệ sinh lao động nghiêm trọng hoặc xảy ra sự cố, tai nạn lao động nghiêm trọng, các Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố, Công đoàn ngành trung ương, Công đoàn Tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn phải thông tin ngay và thường xuyên bằng điện thoại, email, tin nhắn hoặc văn bản cho Tổng Liên đoàn về diễn biến, hậu quả, nguyên nhân và tình hình giải quyết, xử lý vi phạm, sự cố, tai nạn lao động của các cơ quan chức năng và vai trò, sự tham gia của công đoàn.

Theo đánh giá của các chuyên gia thì việc ban hành trên là cần thiết. Tuy nhiên, với vai trò và trách nhiệm của mình thì Công đoàn các cấp cần tích cực, chủ động tham gia hoàn thiện pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động, các văn bản hướng dẫn thực hiện, đặc biệt là đề xuất tiếp tục hoàn thiện Luật An toàn, Vệ sinh lao động để khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong các quy định hiện hành, bổ sung những quy định mới để điều chỉnh những vấn đề mới phát sinh trong công tác an toàn, vệ sinh lao động. Đồng thời, nghiên cứu, đề xuất Nhà nước bổ sung danh mục nghề công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; nghiên cứu, đề xuất Nhà nước bổ sung danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội. Sửa đổi, ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các cấp công đoàn thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động, tham gia cải thiện điều kiện và môi trường làm việc, giảm thiểu tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp một cách cụ thể, sát thực, nhất là với công đoàn cơ sở.

Bảo Anh
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang