PHÁP LUẬT
Cập nhật 18:32 | 13/12/2019 (GMT+7)
.
Ngành gỗ Việt Nam

Đối diện với những rủi ro lớn

07:39 | 12/11/2019
Bên cạnh những tín hiệu vui từ kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ tiếp tục tăng thì ngành gỗ Việt Nam đang phải đối diện với những rủi ro lớn như gian lận thương mại, núp bóng và nguồn gốc xuất xứ nguồn nguyên liệu từ gỗ rừng tự nhiên.

Đầu tư “núp bóng”

Theo thống kê của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFORES), đầu tư nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực chế biến gỗ tăng rất nhanh đặc biệt kể từ năm 2018 trở lại đây. Trong số các quốc gia đầu tư, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc là quốc gia có số lượng dự án và quy mô vốn đầu tư lớn. Số doanh nghiệp ngành gỗ có vốn đầu tư nước ngoài FDI đăng ký mới trong 9 tháng năm 2019 là 67 dự án, tương đương cả năm 2018, với tổng số vốn đầu tư trên 581 triệu USD. Lượng vốn đăng ký của các dự án mới trong 9 tháng cao hơn 2,3 lần so với tổng vốn đăng ký cả năm 2018. Sự mở rộng đầu tư FDI trên cả 3 hình thức là các dự án đầu tư mới, dự án tăng vốn mở rộng sản xuất và góp vốn thông qua hình thức mua cổ phần. Vốn đăng ký trung bình dự án mới 9 tháng là 8,7 triệu USD. Trung Quốc là quốc gia dẫn đầu trong danh sách các quốc gia đầu tư vào lĩnh vực chế biến gỗ Việt Nam với 40 dự án, chiếm gần 60% trong tổng số dự án đầu tư. Năm 2018 kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI đạt gần 3,96 tỷ USD, chiếm 46,7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả ngành.

Ông Tô Xuân Phúc thuộc Tổ chức Forest Trends cho rằng, động lực phát triển và mở rộng của ngành gỗ là hội tụ của nhiều yếu tố, trong đó phải kể đến các cơ chế chính sách thông thoáng trong xuất nhập khẩu và đầu tư; nguồn nhân công rẻ, hệ thống cơ sở hạ tầng tương đối phát triển… Đặc biệt là cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung đem lại cơ hội vô cùng to lớn cho ngành trong việc mở rộng thị phần, tạo ra tăng trưởng nhanh trong xuất khẩu. Tuy nhiên, đây cũng là những rủi ro cho ngành gỗ Việt, trong đó gian lận thương mại là rủi ro lớn nhất. Gian lận có thể tồn tại dưới hình thức “đầu tư chui”, “đầu tư núp bóng”. Theo đó, doanh nghiệp có thể thuê nhà máy, nhà xưởng của Việt Nam, nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc vào sơ chế rồi xuất khẩu sản phẩm với nhãn mác Việt Nam.

Đồng tình với nhận định trên, Giám đốc Trung tâm xác nhận chứng từ thương mại, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Trần Thị Thu Hương nêu thực tế, các hành vi gian lận tẩy xóa xuất xứ hàng hóa (C/O), làm giả C/O đang diễn biến hết sức phức tạp, với riêng ngành gỗ, sản phẩm gỗ dán đang được đặc biệt lưu ý. Khi cuộc chiến thuế quan nổ ra, Trung Quốc bị áp thuế chống bán phá giá trên 180% đối với gỗ dán làm từ gỗ cứng, điều đó khiến các công ty của Trung Quốc tìm hướng xuất khẩu khác bằng cách đầu tư sang Việt Nam.


Toàn cảnh hội thảo

Khó xác định nguồn gỗ hợp pháp

 Trong 9 tháng năm 2019, số doanh nghiệp FDI trực tiếp tham gia xuất khẩu tăng lên con số 565, với tổng kim ngạch gần 3,4 tỷ USD, tương đương 46,6% tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ.

Cùng với rủi ro trong gian lận thương mại, thì ngành gỗ Việt Nam đang phải đối diện với việc xác định nguồn nguyên liệu hợp pháp. Theo đó, cả khâu xuất khẩu và nhập khẩu có liên quan đến nguồn nguyên liệu gỗ từ rừng tự nhiên nhập khẩu vào Việt Nam. Loại hình rủi ro này hình thành trong bối cảnh Chính phủ cam kết loại bỏ toàn bộ gỗ bất hợp pháp ra khỏi chuỗi cung ứng thông qua việc thiết lập và vận hành hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp.

Tuy nhiên, hiện Việt Nam tiếp tục nhập khẩu một lượng lớn gỗ tự nhiên có nguồn gốc từ rừng nhiệt đới là một trong những rủi ro của ngành, nhất là đối với mặt hàng gỗ tròn và gỗ xẻ. Rủi ro hình thành khi các cơ chế, chính sách quy định tính hợp pháp của gỗ tại các quốc gia khai thác không rõ ràng, thiếu tính nhất quán giữa các cơ quan cùng cấp; giữa các cấp chính quyền và giữa các khâu khác nhau trong chuỗi cung ứng.

Theo số liệu của VIFORES, hàng năm số gỗ nguyên liệu nhập từ các nước châu Phi trên dưới 1,5 triệu mét khối gỗ tròn và xẻ; tiếp đó là Camphuchia, Nga, Ucraina… Đặc biệt lượng gỗ nhập khẩu từ Nga, Ucraina tăng nhanh trong thời gian gần đây, từ khoảng 14.200m3 năm 2018 lên đến gần 37.700m3 trong 9 tháng qua. Một số doanh nghiệp cũng chia sẻ, hiện thị trường Việt Nam tồn tại 2 loại gỗ từ nguồn này - một loại có giấy tờ và một loại không giấy tờ, với giá bán 2 loại rất khác nhau. Việc tồn tại hai loại hình gỗ nguyên liệu này đã thể hiện nhiều khía cạnh rủi ro trong gỗ nhập khẩu từ nguồn này.

Từ thực tế này, doanh nghiệp cần tích cực thu thập thông tin về chuỗi nguồn gỗ nguyên liệu nhập khẩu từ các quốc gia. Thông tin bao gồm các cơ chế, chính sách quản lý các khâu khác nhau của chuỗi và tình trạng thực thi pháp luật tại các quốc gia xuất khẩu. Để có thể làm được điều này doanh nghiệp cần có sự đồng hành của cơ quan thương mại của Việt Nam, hiệp hội doanh nghiệp và cơ quan quản lý liên quan của nước xuất khẩu.

Bài và ảnh: Đình Khoa
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang