PHÁP LUẬT
Cập nhật 20:52 | 21/11/2019 (GMT+7)
.
Sổ tay

Quy định rõ để trợ giúp trên cơ sở giới

12:05 | 05/11/2019
Hiện nay, pháp luật Việt Nam về trợ giúp pháp lý nói chung và trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới nói riêng đã đáp ứng cơ bản yêu cầu của các Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (công ước CCPR); Công ước quyền trẻ em (Công ước CRC), Công ước loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (Công ước CEDAW) mà Việt Nam là thành viên.

Cụ thể, Hiến pháp quy định nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Cụ thể hơn, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định về trợ giúp pháp lý cho đối tượng thuộc diện trợ giúp pháp lý là người nghèo hoặc đối tượng yếu thế khác không có điều kiện thuê luật sư khi có các vấn đề pháp lý hoặc xuất phát từ mục tiêu bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội. Phụ nữ được bảo đảm trợ giúp pháp lý bình đẳng với nam giới, không có sự phân biệt đối xử; một số quy định đặc thù về trợ giúp pháp lý cho phụ nữ trong khi thực hiện trợ giúp pháp lý để bảo đảm bình đẳng giới trong hoạt động này cũng không bị coi là “phân biệt đối xử” theo Công ước CEDAW.

Tuy nhiên, so với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và Khuyến nghị 19 của Ủy ban CEDAW về các hành vi bạo lực trên cơ sở giới, quy định của pháp luật Việt Nam về trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới vẫn có không ít bất cập. Trong đó, nổi bật nhất là pháp luật Việt Nam chưa quy định rõ bạo lực trên cơ sở giới. Hành vi này mới được quy định một phần trong hành vi bạo lực gia đình nên chưa có cơ sở để Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và các luật có liên quan có đầy đủ các quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nạn nhân bạo lực giới.

Theo Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới chưa được quy định là đối tượng trợ giúp pháp lý riêng. Hiện, các nạn nhân này được bảo vệ thông qua nhóm đối tượng là “nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình” và “nạn nhân của hành vi mua bán người” có khó khăn về tài chính, nên việc bảo vệ còn có mức độ nhất định. Mặc khác, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 quy định nạn nhân bạo lực gia đình có quyền được tư vấn pháp lý nhưng không quy định rõ cơ quan, tổ chức thực hiện, trình tự, thủ tục thực hiện, phạm vi thực hiện… để bảo đảm thực hiện quyền này.

Vì vướng những quy định trên, nên hoạt động trợ giúp chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu trợ giúp pháp lý của nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới; vụ việc trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bạo lực gia đình nói chung và nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới chưa được thống kê hàng năm nên chưa có đầy đủ số liệu phục vụ công tác quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý. Đặc biệt, nhiều người thực hiện trợ giúp pháp lý chưa được trang bị kỹ năng về trợ giúp pháp lý trong các vụ việc liên quan đến bạo lực trên cơ sở giới.

Từ thực tế này, bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật về trợ giúp pháp lý thì cần tăng cường truyền thông trợ giúp pháp lý của nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới; đẩy mạnh việc bồi dưỡng, tập huấn cho người thực hiện trợ giúp pháp lý về kỹ năng trợ giúp pháp lý trong các vụ việc liên quan đến bạo lực trên cơ sở giới, nhất là kỹ năng tư vấn và tham gia tố tụng trong vụ việc bạo lực trên cơ sở giới, cho nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới.

Đình Khoa
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang