PHÁP LUẬT
Cập nhật 00:30 | 17/11/2019 (GMT+7)
.
Xử lý trường hợp kéo dài thời gian, trốn tránh thi hành án dân sự

Bảo đảm quyền lợi các bên

08:07 | 30/10/2019
Quy định rõ cách thức xử lý đối với các trường hợp người phải thi hành án cố tình thực hiện các giao dịch nhằm trốn tránh việc thi hành án; đồng thời kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ tài chính của người trúng đấu giá tài sản thi hành án là những sửa đổi, bổ sung tại dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18.7.2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự.

Thắt chặt giao dịch,trốn tránh thi hành

Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự, các giao dịch này sẽ không được công nhận và tài sản sẽ bị xử lý để thi hành án. Tuy nhiên, với từng loại giao dịch, cần có cách xử lý khác nhau (trường hợp đã thực hiện giao dịch nhưng chưa/đã hoàn thành việc chuyển quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất). Cụ thể, Khoản 1, Điều 24, Nghị định số 62/2015 quy định, nếu người phải thi hành án chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố tài sản cho người khác mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án và không còn tài sản khác hoặc tài sản khác không đủ để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên, xử lý để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; trường hợp đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án mà tài sản bị chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố cho người khác thì tài sản đó bị kê biên, xử lý để thi hành án. Quy định này, chưa giải quyết được trường hợp người phải thi hành án cố tình thực hiện các giao dịch nhằm trốn tránh việc thi hành án.

Thực tế thi hành án cho thấy, việc chủ sở hữu, sử dụng tài sản thi hành án thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản sau thời điểm có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật diễn ra khá phổ biến. Chính vì thế, dự thảo đã đưa ra các phương án xử lý đối với từng trường hợp cụ thể. Chẳng hạn, trường hợp tài sản đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án mà bị chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố, cho thuê thì vẫn bị kê biên, xử lý; hoặc người phải thi hành án thực hiện các giao dịch nhằm chuyển quyền sở hữu tài sản, chuyển quyền sử dụng đất nhưng chưa hoàn thành việc chuyển quyền thì vẫn xác định đây vẫn đang là tài sản của người phải thi hành án (dù người phải thi hành án thực hiện giao dịch này trước hay sau thời điểm có bản án). Đặc biệt, trường hợp cho thuê quyền hưởng dụng, quyền bề mặt đối với tài sản… nhưng không chuyển giao quyền sở hữu tài sản, chuyển quyền sử dụng đất thì đây vẫn là tài sản của người phải thi hành án nên vẫn kê biên, xử lý.

Theo Khoản 3, Điều 27, dự thảo sửa đổi, bổ sung Nghị định số 62/2017 thì trong thời hạn không quá 30 ngày, trường hợp khó khăn, phức tạp thì không quá 60 ngày, kể từ ngày người mua được tài sản nộp đủ tiền, cơ quan thi hành án dân sự phải tổ chức việc giao tài sản cho người mua được tài sản, trừ trường hợp có sự kiện bất khả kháng.

Hạn chế hủy kết quả bán đấu giá

Điều 27, Nghị định số 62/2017 quy định, người mua được tài sản bán đấu giá phải nộp tiền vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự trong thời hạn không quá 15 ngày, kể từ ngày đấu giá thành. Và, Khoản 3, Điều 27 quy định, tổ chức, cá nhân cản trở, can thiệp trái pháp luật dẫn đến việc chậm giao tài sản bán đấu giá thành mà gây thiệt hại cho người mua được tài sản bán đấu giá thì phải bồi thường.

Thực tế 3 năm thực hiện Nghị định số 62/2015 cho thấy, thời hạn 15 ngày là tương đối ngắn, đặc biệt là đối với những tài sản có giá trị lớn hoặc rất lớn, cần có thời gian cho người trúng đấu giá thu xếp chi phí. Chính vì thế, trong quá trình xử lý tài sản đảm bảo thi hành án đã có nhiều trường hợp người mua được tài sản bán đấu giá không nộp, nộp không đủ tiền mua tài sản trong thời hạn quy định. Từ đó, khiến chấp hành viên và cơ quan thi hành án gặp khó khăn trong việc xử lý kết quả đấu giá, hợp đồng mua bán tài sản phải đăng ký, thanh toán phí dịch vụ bán đấu giá tài sản.

Hơn nữa, Khoản 1, Điều 52, Luật Đấu giá tài sản quy định trường hợp người mua được tài sản bán đấu giá không nộp, nộp không đủ tiền mua tài sản trong thời hạn quy định thì không được coi là đấu giá không thành. Khi đó, cơ quan thi hành án dân sự phải thanh toán trả tổ chức dịch vụ bán đấu giá phí dịch vụ bán đấu giá thành. Khoản phí này được trừ vào tiền bán đấu giá tài sản tiếp theo nên gây thiệt hại cho người có tài sản đảm bảo, bán đấu giá để thi hành án. Từ thực tế này, dự thảo quy định tăng thời hạn từ “15 ngày” lên “30 ngày” vừa tạo điều kiện cho người trúng giá thực hiện nghĩa vụ tài chính; đồng thời cũng tránh cho cơ quan thi hành án dân sự phải thực hiện các quy trình liên quan đến hủy kết quả đấu giá, ảnh hưởng trực tiếp đến tài sản đấu giá.

Ngoài sửa đổi trên, dự thảo đã bổ sung quy định, trường hợp trong cùng một cuộc đấu giá mà có nhiều tài sản được đấu giá để thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự yêu cầu tổ chức đấu giá thực hiện việc đấu giá theo thứ tự từ tài sản có giá trị lớn nhất. Trường hợp số tiền thu được đã đủ để thi hành nghĩa vụ và các chi phí theo quy định thì không tiếp tục đấu giá các tài sản còn lại. Vụ trưởng Vụ Quản lý dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân gia đình, trọng tài thương mại, Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp Lê Thị Kim Dung cho biết, trên thực tế đã có nhiều trường hợp bán đấu giá nhiều tài sản trong cùng một cuộc đấu giá nhưng khi bán xong 1 hoặc 1 số tài sản thì đã đủ tiền thi hành án; số tài sản còn lại cơ quan thi hành án dân sự không biết xử lý như thế nào, nên dừng việc bán đấu giá tài sản (vì đã đủ số tiền phải thi hành) hay tiếp tục bán đấu giá (vì đang ở trong cuộc bán đấu giá và không có quy định nào dừng việc bán đấu giá khi đã đủ số tiền phải thi hành).

Nguyễn Minh
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang