PHÁP LUẬT
Cập nhật 22:08 | 15/10/2019 (GMT+7)
.
Bộ luật Lao động (sửa đổi)

Phải đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các bên

08:00 | 01/10/2019
Sự thay đổi đó không phải là ban hành thêm nhiều quy định trên giấy tờ, mà phải bảo đảm những nội dung được quy định đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người lao động và người sử dụng lao động là chia sẻ của Cố vấn cấp cao về Chính sách và Tiêu chuẩn quốc tế, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) TIM DE MEYER xung quanh dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi).

- Dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) đã có nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng, theo ông những vấn đề này có ý nghĩa như thế nào đối với người sử dụng lao động, người lao động và sự tăng trưởng chung của nền kinh tế Việt Nam?

- Bộ luật Lao động là một văn bản pháp luật toàn diện, quy định nhiều nội dung như hợp đồng lao động, khả năng người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động, tiêu chuẩn tối thiểu về điều kiện làm việc, bảo đảm an toàn và sức khỏe lao động… Quá trình sửa đổi Bộ luật Lao động lần này sẽ đem lại những thay đổi đáng kể. Theo tôi, có hai nội dung thay đổi quan trọng nhất. Một là, ở cấp cơ sở, người lao động giờ đây có thể thành lập các tổ chức đại diện của mình và tham gia vào quá trình thương lượng tập thể có thể giúp người lao động được hưởng phần chia công bằng từ những lợi nhuận mà họ góp phần tạo ra, mặt khác giúp các doanh nghiệp bảo đảm họ có thể đàm phán để cải thiện năng suất cần thiết. Thay đổi lớn thứ 2 là việc mở rộng phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Lao động. Điều này, có nghĩa là nhiều người lao động sẽ được hưởng lợi từ sự bảo vệ của Bộ luật Lao động hơn so với trước đây.

- Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, Bộ luật Lao động (sửa đổi) đã tiệm cận hơn với các tiêu chuẩn lao động quốc tế. Quan điểm của ông về vấn đề này?

- Tôi nghĩ rằng, tiến bộ lớn nhất đạt được trong việc tiệm cận hơn với các Tiêu chuẩn lao động quốc tế là quyền được tổ chức của người sử dụng lao động và người lao động. Cụ thể là họ được thành lập các tổ chức đại diện cho mình để tham gia vào các cuộc thương lượng thực chất về điều kiện làm việc. Điều này rất có ý nghĩa, bởi vì nó giúp người sử dụng lao động cũng như người lao động điều chỉnh theo những thay đổi trong thị trường lao động và để thỏa thuận mức độ linh hoạt cần thiết nhằm duy trì tính bền vững trong thời gian dài hơn.

Chúng tôi cũng nhận thấy những tiến bộ đạt được trong quan hệ việc làm mà giờ đây đã được đưa vào Bộ luật Lao động (sửa đổi). Khi quan hệ việc làm càng được ghi nhận là một công cụ để bảo vệ người lao động làm việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động thì càng dễ cho người lao động trong việc yêu cầu được bảo vệ trong khuôn khổ quy định của Bộ luật Lao động. Bởi vì quan hệ việc làm là “cánh cổng” đi vào Bộ luật Lao động. Vì thế chúng tôi hy vọng rằng điều này có thể đưa pháp luật Việt Nam phù hợp hơn với các tiêu chuẩn quốc tế, chẳng hạn như trong vấn đề mức lương tối thiểu sẽ có thể bảo đảm thêm nhiều người lao động sẽ được hưởng mức lương tối thiểu đủ để nuôi gia đình.

- Vậy, Việt Nam ở đâu trên bản đồ thế giới về phát triển pháp luật trong các quan hệ lao động, thưa ông?

- Việt Nam từ trước đến nay luôn là nước có hệ thống pháp luật với nhiều quy định rộng. Tuy nhiên, khi càng đưa nhiều vào luật trong bối cảnh các hoạt động kinh tế ngày càng đa dạng hóa, thì lại càng khó để mọi người trong nền kinh tế tuân thủ theo các tiêu chuẩn được quy định trong pháp luật. Vì thế, Việt Nam cần thiết phải thực hiện một sự chuyển dịch quan trọng hướng tới chú trọng hơn vào tầm quan trọng của hợp đồng lao động, để cho phép người sử dụng lao động và người lao động, cả ở góc độ cá nhân và tập thể, có thể thương lượng về điều kiện làm việc phù hợp nhất với tình hình của họ. Thế nên tôi nghĩ rằng Việt Nam giờ đây vẫn cần phải thay đổi, nhưng sự thay đổi đó không phải là ban hành thêm nhiều quy định trên giấy tờ, mà phải bảo đảm những nội dung được quy định đó đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người lao động và người sử dụng lao động.

- Bảo vệ quyền của phụ nữ là một vấn đề được nhắc đến nhiều trong dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi), tuy nhiên ranh giới giữa việc bảo vệ quyền của phụ nữ và cơ hội giành cho họ khá mờ nhạt. Làm thế nào để cải thiện vấn đề này?

- Theo tôi vấn đề nằm ở lối tư duy chứ không chỉ là quá trình xây dựng văn bản. Trong thế giới ngày nay, với những cơ hội mà tự do hóa thương mại mang lại, cần thiết phải giữ những quy định trong số nhiều cơ chế bảo vệ quy định trong pháp luật, so với những cơ hội và lựa chọn mà phụ nữ phải chấp nhận công việc mà họ nghĩ họ có thể làm được và chấp nhận việc họ đóng góp cho một nền kinh tế đang tăng trưởng. Đây thực sự vẫn là một câu hỏi, nhiều quốc gia trên thế giới ít nhất đã phần nào trải qua sự chuyển dịch đó và đôi khi là chuyển dịch trong những lĩnh vực mà bạn ít khi nghĩ tới.

Một ví dụ, trước đây, các công việc trong hầm mỏ dưới lòng đất không dành cho phụ nữ. ILO đã từng có tiêu chuẩn lao động quốc tế nghiêm cấm điều đó kể từ năm 1935, Việt Nam cũng đã phê chuẩn công ước đó. Nhưng, ở các nước khai thác mỏ lớn như Nam Phi, Úc, nhiều năm nay ngành công nghiệp khai thác mỏ đã tiếp nhận lao động nữ. Bởi, công nghệ giúp phụ nữ có thể sử dụng những thiết bị ban đầu chỉ thiết kế cho nam giới. Điều này mang lại hữu ích cho phụ nữ, cho tăng trưởng kinh tế và cũng góp phần gắn kết xã hội. Đây là một ví dụ cho thấy bằng cách tạo bình đẳng trong cơ hội và đối xử, tất cả mọi người đều có thể được hưởng lợi.

- Xin cảm ơn ông!

Phạm Hải thực hiện
Xem tin theo ngày:
VĂN BẢN PHÁP LUẬT
07:59 19/08/2019
Tạo môi trường thật sự dân chủ trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì mới có những văn bản luật chất lượng, làm động lực thúc đẩy sự phát triển đất nước. Đó là vấn đề đặt ra trong sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Quay trở lại đầu trang