PHÁP LUẬT
Cập nhật 15:53 | 14/12/2019 (GMT+7)
.
Tuyển dụng, bố trí, bồi dưỡng công chức Tư pháp

Cái khó bó cái khôn

07:58 | 23/09/2019
Luật Hộ tịch, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định việc tuyển dụng, bố trí, bồi dưỡng công chức làm công tác hộ tịch, bảo đảm trước ngày 1.1.2020, 100% công chức tư pháp - hộ tịch đáp ứng đủ tiêu chuẩn. Thời gian không còn nhiều, liệu mục tiêu của các nhà làm luật có trở thành hiện thực?

Khi luật chưa dự liệu hết

Tính đến cuối tháng 6.2019, trên toàn hệ thống Cơ sở dữ liệu (CSDL) hộ tịch điện tử đã ghi nhận có: 10.108 công chức tư pháp hộ - tịch tại 6.621 UBND cấp xã, 429 Phòng Tư pháp cấp huyện và 42 Sở Tư pháp cấp tỉnh tham gia tác nghiệp hàng ngày. CSDL hộ tịch điện tử đã dần được hình thành tại 42/63 tỉnh, thành phố với trên 5.305.251 dữ liệu đăng ký hộ tịch và hơn 10.000.000 công dân đã được thu thập, thiết lập thông tin cơ bản về nhân thân; có 3.149.375 trường hợp đăng ký khai sinh, trong đó có 1.723.818 trẻ em là công dân Việt Nam đăng ký khai sinh mới từ ngày 1.1.2016 đã được cấp số định danh cá nhân; 571.890 trường hợp đăng ký kết hôn; 1.089.931 lượt cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; 426.068 trường hợp đăng ký khai tử; 2.181 trường hợp đăng ký giám hộ; 16.170 trường hợp đăng ký nhận cha, mẹ, con; 1.936 trường hợp đăng ký nuôi con nuôi; 46.690 trường hợp cải chính, thay đổi, bổ sung hộ tịch; 994 trường hợp xác định lại dân tộc.

Theo thông tin từ Bộ Tư pháp, tỉ lệ công chức tư pháp - hộ tịch được trang bị máy tính riêng: Sơn La có 49/204 xã (chiếm 24%); Kon Tum có 80/102  xã (chiếm 78%); Cao Bằng có 173/199 xã (chiếm 87%), Bình Định có 117/159 xã (chiếm 73,6%) - tức là chưa đáp ứng được quy định của Luật Hộ tịch cũng như các văn bản hướng dẫn.

Hộ tịch (khai sinh, khai tử, kết hôn…) là lĩnh vực phát sinh hàng ngày, với muôn vàn tình huống, hoàn cảnh, yêu cầu hộ tịch không giống nhau. Thực tế cho thấy, không pháp luật một nước nào có thể dự liệu được mọi trường hợp xảy ra. Điều này càng khó hơn khi trình độ, năng lực, bản lĩnh nghề nghiệp của nhiều công chức làm công tác hộ tịch còn hạn chế. Chính vì thế, đối với hầu hết các trường hợp phát sinh mà chưa được pháp luật điều chỉnh; hướng dẫn chưa rõ, thì các địa phương đều lúng túng, không biết cách giải quyết. Nhiều trường hợp các sự kiện hộ tịch thông thường như đăng ký khai sinh, xác nhận tình trạng hôn nhân, khai tử, thay đổi họ, tên, cải chính hộ tịch, có những tình tiết phức tạp, Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn chưa dự liệu được, cơ quan đăng ký hộ tịch cấp dưới không đủ tự tin để vận dụng pháp luật giải quyết, thường phải chờ xin ý kiến hướng dẫn nghiệp vụ của cấp trên. Hàng năm, Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực, Bộ Tư pháp trung bình phải nghiên cứu trên 200 văn bản hướng dẫn nghiệp vụ hộ tịch cho các địa phương, mỗi văn bản kể cả thời gian nghiên cứu, gửi đi, nhận về qua đường bưu điện trung bình cần 20 ngày.

“Mượn” biên chế

Luật Hộ tịch, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP đã quy định cụ thể về việc tuyển dụng, bố trí, bồi dưỡng công chức làm công tác hộ tịch, bảo đảm trước ngày 1.1.2020, 100% công chức tư pháp - hộ tịch đáp ứng đủ tiêu chuẩn theo quy định của Luật Hộ tịch. Đồng thời, ưu tiên bố trí công chức tư pháp - hộ tịch làm công tác hộ tịch chuyên trách tại các xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cấp xã loại 1, loại 2 có đông dân cư, số lượng công việc hộ tịch nhiều; không tuyển dụng, bố trí công chức tư pháp - hộ tịch không đúng quy định.

Luật quy định là vậy, nhưng thực tế lại rất… xa vời. Ở Phòng Tư pháp, công chức tư pháp phải đảm nhiệm hầu hết các nhiệm vụ công tác tư pháp (trên 15 đầu việc), ngoài ra nhiều nơi còn phải thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm soát thủ tục hành chính... thậm chí tham gia cưỡng chế giải phóng mặt bằng, thẩm định quyết định xử phạt vi phạm hành chính… do lãnh đạo UBND giao. Và, có UBND cấp tỉnh còn ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy định số lượng cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh, trong đó quy định cứng việc bố trí 1 biên chế công chức tư pháp - hộ tịch phụ trách Phó trưởng Công an xã (biên chế này không thực hiện nhiệm vụ tư pháp - hộ tịch, chỉ thực hiện nhiệm vụ của Công an xã).

Khảo sát 3 năm thực hiện Luật Hộ tịch còn cho thấy một thực tế khác đáng lưu tâm, các địa bàn cấp huyện, cấp xã có đông dân cư, khối lượng công việc rất lớn, công chức hộ tịch bị quá tải, nhưng chính quyền cũng chỉ bố trí được 1 công chức tư pháp - hộ tịch tại UBND cấp xã; một số Phòng Tư pháp cấp huyện chỉ có 2 biên chế, thậm chí có thời điểm chỉ có 1 biên chế. Bên cạnh đó, còn tồn tại tình trạng công chức được đào tạo chuyên ngành khác (kinh tế, nông nghiệp, giáo viên...) được bố trí làm công tác hộ tịch, một số địa phương còn có tình trạng “mượn biên chế” - tức là tuyển dụng công chức tư pháp - hộ tịch song thực tế lại bố trí làm công tác xã đội, công an xã hoặc công tác khác.

Không chỉ không bố trí đủ biên chế như luật định, mà còn có tình trạng số công chức có trình độ chuyên môn chưa phù hợp là tương đối phổ biến ở các địa phương, chẳng hạn An Giang có 38/132 công chức (chiếm 28,8%); Kiên Giang có 41/286 công chức (chiếm 14,3%), Kon Tum có 27/183 công chức (chiếm 14,7%), Ninh Thuận có 50/115 công chức (chiếm 43,4%), Sơn La có 160/502 công chức (chiếm 31,8%), Trà Vinh có 38/269 công chức (chiếm 14%), Vĩnh Long có 43/218 công chức (chiếm 19,72%), Bình Dương có 51/191 công chức (chiếm 26,7%). Như vậy, khó có thể duy trì 100% công chức làm công tác hộ tịch có trình độ chuyên môn phù hợp theo quy định của Luật Hộ tịch. Bởi theo thống kê, đến cuối năm 2018, cả nước có 20.483 công chức làm công tác hộ tịch trong đó có 249 người có trình độ thạc sĩ luật, 9.624 người có trình độ đại học luật (chiếm 56,3%), 6.494 người có trình độ trung cấp luật (chiếm 37%), còn lại vẫn còn tới 3.154 công chức (chiếm 21,2%) có chuyên môn khác, tỉ lệ này ở mỗi tỉnh khác nhau là khác nhau. Không chỉ hạn chế về trình độ chuyên môn, trình độ tin học, kỹ năng thống kê của công chức tư pháp - hộ tịch cũng có hạn chế, dẫn đến còn có sai sót trong quá trình giải quyết công việc.

Bài và ảnh: Phạm Hải
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang