PHÁP LUẬT
Cập nhật 22:08 | 15/10/2019 (GMT+7)
.

Khó xác định tài sản chung, riêng

08:34 | 20/09/2019
Khoản 3, Điều 33, Luật Hôn nhân và gia đình quy định, trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung. Tuy nhiên, từ thực tiễn xét xử các vụ việc liên quan đến hôn nhân và gia đình, việc xác định tài sản chung, riêng không hề đơn giản.

Chưa thống nhất trong xét xử

Luật Hôn nhân và gia đình đã ghi nhận và bảo vệ quyền sở hữu tài sản riêng của vợ, chồng. Tuy nhiên, việc chứng minh đâu là tài sản riêng trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn nếu hai bên không có thỏa thuận trước hoặc không có các chứng cứ, tài liệu để chứng minh cụ thể.

Nguồn Tòa án Nhân dân Tối cao

Một trong những vướng mắc được nhiều tòa án đề cập đến đó là tình trạng tài sản riêng được đưa vào sử dụng chung nhưng không có thỏa thuận bằng văn bản. Vướng ở chỗ chính cơ quan xét xử còn có những ý kiến chưa thống nhất. Ý kiến thứ nhất cho rằng, tài sản vợ chồng đang quản lý chung mặc dù một người đứng tên (có trước thời kỳ hôn nhân), không có văn bản thỏa thuận đó là tài sản riêng thì vẫn là tài sản chung của vợ chồng. Quan điểm thứ 2 lại lập luận, tài sản có trước khi kết hôn hoặc được thừa kế, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân cho dù có đưa vào sử dụng chung, nhưng vẫn đứng tên người đó, không có văn bản xác nhận đó là tài sản chung thì tài sản đó được xác định là tài sản riêng của vợ hoặc chồng.

Đáng nói, Điều 35, Luật Hôn nhân và gia đình quy định, việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ, chồng quyết định. Tài sản riêng được xác lập trước thời kỳ hôn nhân và được đưa vào sử dụng chung trong thời kỳ hôn nhân nhưng không có thỏa thuận nào của vợ chồng xác lập là tài sản chung, người có tài sản trước thời kỳ hôn nhân không cần phải chứng minh. Tuy nhiên, điều luật buộc phải chứng minh và thực tế việc vận dụng pháp luật trong công tác xét xử là chưa thống nhất hoặc có lúng túng trong việc áp dụng pháp luật.

Điều 43, Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản được chia riêng cho vợ, chồng do vợ, chồng thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng”. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều loại tài sản không nằm trong quy định trên, chẳng hạn đối với tài sản là thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân (khoản tiền thưởng, tiền kinh doanh riêng, tiền trợ cấp mà không phải là khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng…) hay đối với vật vô chủ, vật bị chôn giấu, bị chìm đắm, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước và thu nhập hợp pháp khác theo quy định của pháp luật…

Lúng túng trong áp dụng

Khoản 1, Điều 44, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình (được tặng cho riêng, thừa kế riêng hoặc tài sản hình thành trước thời kì hôn nhân…). Như vậy, các giao dịch cầm cố, thế chấp đối với tài sản riêng của vợ, chồng sẽ được xác lập, thực hiện bởi chính người vợ, chồng đó. Tuy nhiên, thực tế nhận tài sản bảo đảm tại tổ chức tín dụng có phát sinh nhiều trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản riêng của vợ, chồng nhưng nhà ở và các công trình xây dựng trên đất (chưa được cập nhật quyền sở hữu trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) lại là tài sản hình thành trong thời kì hôn nhân, được tạo lập từ công sức đóng góp chung của cả hai vợ chồng hoặc ngược lại. Nếu tổ chức tín dụng ký kết hợp đồng bảo đảm với riêng người vợ (chồng) thì quá trình xử lý tài sản bảo đảm khi có tranh chấp phát sinh sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí là không thể thực hiện được.

Đại diện Ngân hàng Nhà nước nêu thực tế, trong trường hợp tổ chức tín dụng ký kết hợp đồng bảo đảm với cả vợ chồng khách hàng, rủi ro nêu trên có thể được hạn chế. Tuy nhiên, theo quy định tại Điểm a, Khoản 1 Điều 118 Luật Nhà ở năm 2014 thì hợp đồng sẽ bị các công chứng viên từ chối công chứng vì cho rằng tài sản bảo đảm là tài sản riêng của vợ, chồng thì chỉ vợ hoặc chồng được ký hợp đồng bảo đảm; phần tài sản là nhà ở và công trình xây dựng trên đất tuy đã hình thành trên thực tế, nhưng chưa được ghi nhận trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nên không thể trở thành đối tượng của hợp đồng bảo đảm.

Bên cạnh những vướng mắc trong quá trình thực hiện giao dịch bảo đảm đối với tài sản thì hiện các tổ chức tín dụng, ngân hàng còn gặp rất nhiều lúng túng trong việc xác định như thế nào là “nguồn sống duy nhất của gia đình” khi giao dịch. Cụ thể, theo quy định tại Khoản 4, Điều 44, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ. Tuy nhiên chưa có hướng dẫn cụ thể thế nào là “nguồn sống duy nhất của gia đình” .

Nguyễn Minh
Xem tin theo ngày:
VĂN BẢN PHÁP LUẬT
07:59 19/08/2019
Tạo môi trường thật sự dân chủ trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì mới có những văn bản luật chất lượng, làm động lực thúc đẩy sự phát triển đất nước. Đó là vấn đề đặt ra trong sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Quay trở lại đầu trang