PHÁP LUẬT
Cập nhật 11:22 | 22/09/2019 (GMT+7)
.
Sổ tay

Thiếu quy định phù hợp

08:10 | 11/09/2019
Một mục tiêu quan trọng được Chính phủ xác định trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 5.2.2007 là đến năm 2020 phải thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững 16,2 triệu ha đất quy hoạch cho lâm nghiệp và có ít nhất 30% diện tích rừng sản xuất tương ứng với khoảng 2 triệu ha rừng phải được được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững.

Tuy nhiên, đến nay diện tích đạt chứng chỉ rừng Việt Nam mới chỉ đạt khoảng 236,998ha. Thời gian không còn nhiều, liệu ngành lâm nghiệp có hoàn thành mục tiêu đã đề ra, nhất là trong bối cảnh Việt Nam và EU ký kết Hiệp định Đối tác tự nguyện về thực thi Luật Lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT), nhu cầu gỗ có chứng chỉ cho xuất khẩu ngày càng lớn.

Theo thống kê của Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, năm 2018, giá trị xuất khẩu của ngành đã đạt 9,382 tỷ USD, tuy nhiên ngành chế biến và xuất khẩu lâm sản nước ta cũng đang đứng trước những thách thức lớn, nhiều thị trường nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam có những yêu cầu rất cao về kiểm soát nguồn gốc, xuất xứ nguyên liệu và các tiêu chuẩn quốc tế về quản lý rừng bền vững. Điều này, đòi hỏi các nhà sản xuất, xuất khẩu của Việt Nam phải bảo đảm sử dụng nguồn nguyên liệu hợp pháp, có chứng chỉ quản lý rừng bền vững thì mới xuất khẩu được sang các thị trường lớn. Có thể thấy, chứng chỉ này là cánh cửa cho việc xuất khẩu gỗ hợp pháp và ngược lại gỗ chỉ được coi là gỗ hợp pháp khi được trồng, chế biến, sản xuất tại rừng có chứng chỉ.

Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất là hiện Việt Nam chưa ban hành các nguyên tắc, tiêu chí, trình tự quản lý rừng bền vững chuẩn mực hài hòa với quy định của quốc tế. Trong khi đó, rất nhiều vấn đề liên quan đến việc cấp, quản lý, vận hành chứng chỉ chưa được giải quyết. Trong đó, nổi lên tình trạng thiếu nguồn nhân lực về quản lý, tổ chức trong quản lý rừng bền vững; thiếu kiến thức về kinh tế và kỹ thuật cũng khiến việc áp dụng chứng chỉ rừng bền vững, nhất là ở những hộ gia đình trồng rừng, những doanh nghiệp nhỏ lẻ… Đó là chưa kể đến, các quy định liên quan đến quyền sử dụng đất hợp pháp cho toàn bộ diện tích rừng và đất rừng đang quản lý thì mới được xem xét là yếu tố để cấp chứng chỉ, trong khi đó tiến độ cấp giấy chứng nhận ở các địa phương còn rất chậm.

Bên cạnh những vướng mắc, khó khăn nêu trên thì câu chuyện chứng chỉ rừng, nguồn gốc gỗ hợp pháp còn phải đối diện với nhiều khoảng trống pháp luật hoặc nhiều quy định chưa tương ứng với tiêu chuẩn quốc tế. Chẳng hạn, các quy trình quy phạm, quyết định, thông tư về khai thác gỗ của Việt Nam đã ban hành chưa đáp ứng hoàn toàn yêu cầu giảm thiểu tác động môi trường của quản lý rừng bền vững quốc tế (Quy trình RIL -  FAO); hoặc thiếu chính sách hướng dẫn chi tiết cho các chủ rừng về tiêu thụ, sử dụng sản phẩm sau khai thác nhằm nâng cao quyền tự chủ của chủ rừng khi thực hiện quản lý rừng bền vững cũng như nâng cao giá trị của sản phẩm gỗ và lâm sản khác.

Phạm Hải
Xem tin theo ngày:
VĂN BẢN PHÁP LUẬT
07:59 19/08/2019
Tạo môi trường thật sự dân chủ trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì mới có những văn bản luật chất lượng, làm động lực thúc đẩy sự phát triển đất nước. Đó là vấn đề đặt ra trong sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Quay trở lại đầu trang